Lượng phát thải có thể lên đến 466 triệu tấn CO2 vào năm 2020

Ngày 28/7, Hội nghị tổng kết Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2010-2015 do Bộ Công Thương tổ chức đã diễn ra tại Hà Nội.

Báo cáo tại Hội nghị, Phó Cục trưởng Cục An toàn môi trường Trần Văn Lượng cho biết, tổng lượng phát thải nhà kính của Việt Nam năm 2010 là 246,8 triệu tấn CO2 tương đương. Trong đó, lĩnh vực năng lượng phát thải 141,1 triệu tấn CO2 tương đương, chiếm 53%. Dự báo đến năm 2020 sẽ tiếp tục tăng nhanh, với tổng lượng phát thải lên đến 466 triệu tấn CO2; trong đó, lĩnh vực năng lượng là 381,1 triệu tấn, chiếm 81%.

Hiện các quốc gia trên thế giới có xu hướng sử dụng các công cụ thị trường liên quan đến định giá việc phát thải carbon. Cụ thể, việc phát thải carbon sẽ được định giá làm cơ sở hình thành thị trường carbon nội địa ở các quốc gia, khu vực và toàn cầu. Đây chính là cơ hội nhưng cũng là rào cản kỹ thuật đối với các quốc gia chưa kịp chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải ít carbon.

Theo báo cáo, với tổng số vốn hơn 32 tỷ đồng trong 5 năm, Bộ Công Thương đã triển khai 11 dự án về tuyên truyền đào tạo nhận thức, năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, 14 dự án đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đề xuất giải pháp ứng phó, cùng với đó là nhiều dự án xây dựng cơ chế, lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển ngành Công Thương… Tuy nhiên, việc thí điểm áp dụng mô hình giảm phát thải khí nhà kính trong công nghiệp vẫn chưa được thực hiện.

Ông Nguyễn Văn Thanh, Cục trưởng Cục Hóa chất cho hay, sự phối hợp thực hiện giữa các đơn vị trong ngành Công Thương vẫn chưa tốt, do vậy mới chỉ thực hiện được ở các hoạt động về nghiên cứu, đào tạo. Bộ đã xây dựng các dự án về ứng phó biến đổi khí hậu nhưng nguồn kinh phí yếu và chưa có cơ chế hỗ trợ cụ thể nên chưa được thực hiện.

Nhiều ý kiến tại hội nghị cũng cho rằng, nguồn kinh phí cấp cho Chương trình còn hạn chế. Với 32 tỷ đồng trong 5 năm, như vậy, trung bình kinh phí cấp cho hoạt động chống biến đổi khí hậu mỗi năm chỉ khoảng 6 tỷ đồng.

Về giải pháp, ông Trần Văn Lượng cho rằng, cần huy động mọi nguồn lực từ ngân sách trung ương, địa phương và tài trợ quốc tế; lồng ghép thực hiện trong các chương trình hiện có như khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng… Đồng thời, về hợp tác quốc tế, cần tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm với các nước và tiếp nhận chuyển giao công nghệ ứng phó biến đổi khí hậu, sử dụng năng lượng hiệu quả…

Kết luận hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng yêu cầu các đơn vị cần tiếp tục rà soát kế hoạch của Bộ về chống biến đổi khí hậu, ngoài nhiệm vụ lâu dài là giảm phát thải nhà kính thì trong thời gian tới, phải tăng cường các giải pháp để chống biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao. Bên cạnh đó, tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, có cơ chế chính sách chống biến đổi khí hậu, đặc biệt xây dựng cơ chế quy hoạch cụ thể… Với nguồn kinh phí còn hạn chế, các đơn vị cần đưa ra các cơ chế, chính sách có lợi cho doanh nghiệp để khuyến khích và huy động doanh nghiệp tham gia chống biến đổi khí hậu.

Theo vietnamplus.vn

Tiết kiệm 1,6 tỷ đồng/năm nhờ sản xuất sạch hơn

Với những bước phát triển mạnh mẽ, chìa khoá thành công của Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiên Long (gọi tắt Công ty Thiên Long) là nâng cao quản trị doanh nghiệp (DN), đổi mới sản phẩm theo xu hướng thị trường và sản xuất sạch hơn nhằm tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng đầu vào, tạo giá trị gia tăng cho doanh nghiệp cũng như đảm bảo yếu tố môi trường và trách nhiệm xã hội của DN.

Tiết kiệm 1,6 tỷ đồng/năm nhờ sản xuất sạch hơn
Sản xuất bút bi tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiên Long

Từ khi công ty được thành lập năm 1981 đến nay, ban lãnh đạo công ty luôn xác định rõ sứ mệnh của mình là xây dựng giá trị cốt lõi tạo nên thương hiệu Thiên Long trong lòng khách hàng với tiêu chí “Tiên phong trong công nghệ và sáng tạo để tạo ra những sản phẩm đột phá phục vụ người tiêu dùng, cùng nhau xây dựng cộng đồng Thiên Long phát triển vững mạnh, mang tính nhân đạo, nhân văn”.

Giữa năm 2011, công ty đã thành lập Ban cải tiến nhằm đề xuất các biện pháp cải tiến, kiểm tra và có chế độ khen thưởng cho cán bộ công nhân viên (CBCNV) có hoạt động, thành tích cải tiến.

Ông Bùi Văn Huống – Phó Tổng giám đốc công ty cho biết: “Sau khi được thành lập, Ban cải tiến đã đưa ra nhiều giải pháp cải tiến công nghệ giúp tiết kiệm năng lượng, kiểm soát ô nhiễm ngay từ đầu quá trình sản xuất, thay đổi thói quen sử dụng năng lượng sao cho hợp lý…. Các giải pháp này đã giúp công ty tiết kiệm mỗi năm trên 1,6 tỷ đồng”.

Công ty đã thay thế 13 máy ép nhựa loại truyền động thủy lực dùng bơm dầu không có biến tần bằng loại máy truyền động thủy lực dùng bơm dầu có biến tần, tiết kiệm 40% mức tiêu thụ điện năng so với máy cũ. Bên cạnh đó, công ty cũng mạnh dạn đầu tư 4 máy ép nhựa loại truyền động điện dùng động cơ servo, tiết kiệm đến 60% mức tiêu thụ điện năng.

Đối với hệ thống chiếu sáng tại phân xưởng ép, công ty đã thay thế đèn cao áp công suất 400W/bộ và mở suốt 24h/ngày bằng đèn huỳnh quang 16W cho mỗi máy ép, lắp công tắc riêng cho mỗi bộ đèn cao áp cũng như đèn huỳnh quang, mỗi ngày chỉ mở bình quân 3 bộ đèn cao áp và 30 đèn huỳnh quang. Đèn huỳnh quang T10 cũng được Ban cải tiến đề xuất thay thế bằng đèn huỳnh quang T8 và thay thế tôn sáng để hạn chế mở đèn vào ban ngày, nhằm tiết kiệm điện tại các phân xưởng sản xuất. Khối văn phòng cũng được quy định mở máy lạnh trễ 15 phút trước khi bắt đầu làm việc và tắt sớm hơn 15 phút trước khi hết giờ. Còn tại các kho, công ty cũng đã lắp tôn sáng để lấy ánh sáng tự nhiên, nhằm tiết kiệm điện….

Đặc biệt, công ty đã xây dựng Chương trình giảm thiểu chất thải trong sản xuất nhằm hướng đến mục tiêu sản xuất xanh – tiêu dùng bền vững; 100% phế liệu trong quá trình ép bán thành phẩm của công ty đã được tái chế và trở thành nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất.

Ông Huống cho biết: “Phát triển theo hướng xanh hơn không những giúp Thiên Long tiết giảm chi phí sản xuất nhờ sử dụng tài nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng một cách hợp lý mà còn giúp công ty giảm chi phí hoạt động xử lý chất thải. Hiện nay, Thiên Long vẫn xác định áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn là một trong những chiến lược lâu dài của công ty, vừa giúp DN gia tăng lợi ích kinh tế, hiệu quả môi trường, trách nhiệm xã hội và nâng cao vị thế, uy tín và thương hiệu của DN trên thị trường trong và ngoài nước”.

Theo Minh Kỳ – baocungcau.vn

Ninh Bình: tập huấn sản xuất sạch hơn cho các doanh nghiệp công nghiệp

Sáng nay, 6/8/2015, Sở Công Thương Ninh Bình đã tổ chức lớp tập huấn SXSH trong công nghiệp cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Mặc dù thời tiết không thuận lợi nhưng các doanh nghiệp đã có mặt đông đủ tham gia lớp tập huấn. Hai diễn giả chính của lớp tập huấn là bà Kiều Nguyễn Việt Hà – Chuyên viên Văn phòng giúp việc Ban Điều hành Chiến lược SXSH trong công nghiệp, Bộ Công Thương và bà Tăng Thị Hồng Loan – Giám đốc Công ty CP Tư vấn Epro.

Khai mạc lớp tập huấn, ông Lương Xuân Bằng – Phó Giám đốc Sở Công Thương Ninh Bình nhấn mạnh, mục tiêu của lớp tập huấn là giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, nhiên liệu, giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người và đảm bảo sự phát triển bền vững. Ông Bằng cũng mong muốn, các doanh nghiệp tích cực tham gia trong quá trình tập huấn, tranh thủ giải đáp mọi vướng mắc để sau đó triển khai trong đơn vị, doanh nghiệp mình.

Các vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm như thế nào là SXSH, SXSH có lợi gì cho doanh nghiệp, tham gia SXSH doanh nghiệp có được hỗ trợ gì không… đã được các diễn giả giải đáp đầy đủ. Bên cạnh việc giới thiệu về Chiến lược SXSH trong công nghiệp với các mục tiêu cụ thể cho đến năm 2020, bà Kiều Nguyễn Việt Hà còn giới thiệu với các doanh nghiệp cách tiếp cận các nguồn vốn thông qua các Quỹ và các chương trình, dự án. Bà Tăng Thị Hồng Loan giới thiệu đến các doanh nghiệp lợi ích, hiệu quả của việc áp dụng các giải pháp SXSH và đưa ra những ví dụ rất cụ thể về các điển hình áp dụng SXSH thành công, đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho doanh nghiệp.

Bà Kiều Nguyễn Việt Hà giới thiệu những mục tiêu chính trong Chiến lược SXSH trong công nghiệp

Bà Kiều Nguyễn Việt Hà giới thiệu những mục tiêu chính trong Chiến lược SXSH trong công nghiệp

Được biết, ngày 26/5/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ban hành Quyết định số 499/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình Khuyến công tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2016-2020, trong đó có Chương trình hỗ trợ áp dụng SXSH với kinh phí hỗ trợ 3,37 tỉ đồng. Riêng năm 2016, kinh phí cho hoạt động SXSH là 370 triệu đồng, trong đó 220 triệu đồng từ nguồn kinh phí địa phương và 150 triệu đồng từ các nguồn khác. Số tiền này sẽ được dùng để hỗ trợ tổ chức hội thảo, tập huấn về áp dụng SXSH trong công nghiệp cho các cơ sở công nghiệp nông thôn; xây dựng mô hình tiên tiến, thí điểm về áp dụng SXSH để phổ biến nhân rộng. Hỗ trợ tư vấn và áp dụng các giải pháp SXSH để khuyến khích nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo phát triển bền vững.

Theo Hồ Nga – tapchicongthuong.vn

Hỗ trợ kinh phí cho 28 mô hình sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu

Ngày 4/8, Ban điều phối thích ứng biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại Trà Vinh (dự án AMD – Trà Vinh) triển khai kế hoạch thực hiện dự án từ nay đến cuối năm 2015.

Hỗ trợ kinh phí cho 28 mô hình sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu
Thu hoạch tôm nuôi trong nhà kính ở Bạc Liêu. (Ảnh: Thanh Liêm/TTXVN)
Ông Huỳnh Nghĩa Thọ, Giám đốc Ban điều phối Dự án AMD-Trà Vinh, cho biết Ban điều phối Dự án tiếp tục xây dựng năng lực thích ứng biến đổi khí hậu và đầu tư sinh kế bền vững cho cộng đồng trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.Dựa vào kết quả do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Trà Vinh khảo sát tại 30 xã trên địa bàn tỉnh, Ban điều phối Dự án sẽ xây dựng và thống nhất mức trần kinh phí hỗ trợ cụ thể cho 28 mô hình; trong đó có 13 mô hình sản xuất trong các lĩnh vực trồng trọt, bảy mô hình chăn nuôi và tám mô hình thủy sản được đánh giá thích ứng với biến đổi khí hậu.

Ở lĩnh vực trồng trọt, nhiều mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao như chuyên canh rau, màu trên đất trồng lúa kém hiệu quả, trồng ngô giống, trồng lạc và dưa hấu tiết kiệm nước có thể nhân rộng ở khu vực đất giồng cát và triền giồng ở các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải – các địa phương thường xuyên bị thiếu nước tưới trong mùa khô.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, các mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu được hỗ trợ, gồm chăn nuôi lợn sinh sản, chăn nuôi lợn thịt, nuôi bò cái sinh sản, nuôi bò thịt, chăn nuôi dê, nuôi vịt đẻ trứng theo hướng an toàn sinh học kết hợp với thả cá và chăn nuôi gà thả vườn.

Ở lĩnh vực thủy sản, các mô hình hiệu quả được hỗ trợ gồm nuôi thủy sản kết hợp trồng rừng, nuôi tôm sú quảng canh cải tiến, nuôi tôm thẻ chân trắng ở các vùng sinh thái lợ và mặn, nuôi cá tai tượng trong mương vườn, nuôi sò huyết trên triền sông dưới tán rừng, nuôi tôm sú kết hợp cá rô phi, nuôi cá thác lác, mô hình lúa-tôm.

Các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất theo các mô hình trên được Ban quản lý Dự án AMD-Trà Vinh xét duyệt sẽ được Quỹ đồng tài trợ mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu (Quỹ CCA) hỗ trợ không hoàn lại tối đa 50% tổng chi phí kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Những hộ cá thể được hỗ trợ tối đa 30 triệu đồng/hộ; những tổ, nhóm được hỗ trợ tối đa 750 triệu đồng/tổ, nhóm; số tiền còn lại do người hưởng lợi đóng góp.

Ngoài ra, từ nay đến cuối năm, các địa phương tham gia dự án còn được Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển giải ngân nguồn vốn gần 14 tỷ đồng cho các nhóm tiết kiệm tín dụng, nhằm giúp hộ nghèo tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi đầu tư cho sản xuất đúng mục đích và hiệu quả để thoát nghèo bền vững.

Dự án AMD-Trà Vinh thực hiện từ năm 2014 đến năm 2020 trên địa bàn 30 xã của bảy huyện trong tỉnh với 15.000 hộ nghèo, cận nghèo được hưởng lợi, do Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) tài trợ.

Tổng vốn đầu tư của dự án 521 tỷ đồng; trong đó vốn vay của IFAD hơn 233 tỷ đồng, vốn tài trợ không hoàn lại hơn 126 tỷ đồng, vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam hơn 79 tỷ đồng và nguồn đóng góp của người dân được hưởng lợi hơn 81 tỷ đồng.

Mục tiêu tổng thể của dự án là xây dựng sinh kế bền vững cho người nghèo ở nông thôn trong điều kiện môi trường thay đổi; nâng cao năng lực thích ứng của cộng đồng để tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu.

Theo TTXVN

Trên 70.000 tỷ đồng đầu tư xây nhà máy điện gió tại Cà Mau

Ông Mai Hữu Chinh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cà Mau, cho biết theo đề nghị của Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng – thương mại – du lịch Công Lý, lãnh đạo địa phương đã nhất trí ủng hộ để doanh nghiệp này đầu tư phát triển nhà máy điện gió tại bãi biển Khai Long thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Trên 70.000 tỷ đồng đầu tư xây nhà máy điện gió tại Cà Mau
Ảnh chỉ có tính minh họa. (Ảnh: Huỳnh Sử/TTXVN)
Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng-thương mại-du lịch Công Lý là đơn vị đã có kinh nghiệm trong xây dựng nhà máy điện gió tại tỉnh Bạc Liêu thời gian qua.Dự án có tổng kinh phí ước tính trên 70.000 tỷ đồng với quy mô 150 trụ tuabin, công suất thiết kế 300MW, được xây dựng trên diện tích hơn 7.000ha. Ngoài ra, diện tích dành để xây trạm biến áp và nhà điều hành lên tới 20ha.

Hiện tỉnh Cà Mau cùng với nhà đầu tư khẩn trương làm dự toán chi tiết, giải phóng mặt bằng, đồng thời tiến hành các thủ tục theo quy định để trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ xem xét và phê duyệt để dự án triển khai trong thời gian sớm nhất.
Đây là dự án có quy mô lớn thuộc chương trình phát triển năng lượng sạch, phù hợp với điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Theo TTXVN

Sản xuất sạch hơn – Giải pháp phát triển cho doanh nghiệp công nghiệp

Theo các chuyên gia về sản xuất sạch hơn (SXSH) trên thế giới, các giải pháp SXSH không chỉ đơn thuần là thay đổi thiết bị, mà còn là các thay đổi trong vận hành và quản lý của một doanh nghiệp (DN).

Nhà máy sản xuất sữa bột hiện đại của Vinamilk tại Bình Dương

Nhà máy sản xuất sữa bột hiện đại của Vinamilk tại Bình Dương

Các giải pháp sản xuất sạch hơn

Giải pháp SXSH gồm giảm chất thải tại nguồn, về cơ bản, ý tưởng của SXSH là tìm hiểu tận gốc của ô nhiễm bằng quá trình Quản lý nội vi nhằm kiểm soát quá trình sản xuất của DN. Quản lý nội vi là một loại giải pháp đơn giản nhất của SXSH. Quản lý nội vi không đòi hỏi chi phí đầu tư và có thể được thực hiện ngay sau khi xác định được các giải pháp, các ví dụ của quản lý nội vi có thể là khắc phục các điểm rò rỉ, đóng van nước hay tắt thiết bị khi không sử dụng dễ tránh tổn thất. Mặc dù quản lý nội vi là đơn giản nhưng vẫn cần có sự quan tâm của ban lãnh đạo cũng như việc đào tạo nhân viên. Đây là giải pháp nhằm kiểm soát quá trình tốt hơn, để bảo đảm các điều kiện sản xuất được tối ưu hóa về mặt tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất và phát sinh chất thải. Đối với giải pháp này, các thông số của quá trình sản xuất như nhiệt độ, thời gian, áp suất, pH, tốc dộ… cần được giám sát và duy trì càng gần với điều kiện tối ưu càng tốt. Cũng như với quản lý nội vi, việc kiểm soát quá trình tốt hơn, đòi hỏi các quan tâm của ban lãnh đạo cũng như việc giám sát ngày một hoàn chỉnh hơn.

Sau giải pháp quản lý nội vi, giải pháp thay đổi nguyên liệu cũng được các chuyên gia nhấn mạnh. Đây là việc thay thế các nguyên liệu đang sử dụng bằng các nguyên liệu khác thân thiện với môi trường hơn. Thay đổi nguyên liệu còn có thể là việc mua nguyên liệu có chất lượng tốt hơn để đạt được hiệu suất sử dụng cao hơn. Thông thường lượng nguyên liệu sử dụng, chất lượng của nguyên liệu và sản phẩm có mối quan hệ trực tiếp với nhau.

Giải pháp quan trọng không kém là cải tiến thiết bị là việc thay đổi thiết bị đã có để nguyên liệu tổn thất ít hơn. Việc cải tiến thiết bị có thể là điều chỉnh tốc độ máy, là tối ưu kích thước kho chứa, là việc bảo ôn bề mặt nóng, lạnh, hoặc thiết kế cải thiện các bộ phận cần thiết trong thiết bị. Một ví dụ của mạ điện là lắp đặt cẩu vớt để thu hồi phần rơi vãi từ các chi tiết được mạ. Công nghệ sản xuất mới là việc lắp đặt các thiết bị hiện đại và có hiệu quả hơn, ví dụ như lắp đặt nồi hơi hiệu suất cao hơn hay lắp đặt máy nhuộm Jet sử dụng dung tỷ thấp hơn. Giải pháp này yêu cầu chi phí đầu tư cao hơn các giải pháp sản xuất sạch khác, do đó cần phải được nghiên cứu cẩn thận. Mặc dù vậy, tiềm năng tiết kiệm và cải thiện chất lượng có thể cao hơn so với các giải pháp khác.

Giải pháp tuần hoàn cũng được xem là một giải pháp hay. Các loại dòng thải không thể tránh được trong khu vực sản xuất hoặc bán ra như một loại sản phẩm phụ, hoặc được tận thu và tái sử dụng tại chỗ là việc thu thập “chất thải” và sử dụng lại cho quá trình sản xuất. Một ví dụ đơn giản của giải pháp này là sử dụng lại nước giặt từ một quá trình cho quá trình giặt khác. Tạo ra các sản phẩm phụ là việc thu thập (và xử lý) “các dòng thải” để có thể trở thành một sản phẩm mới hoặc bán ra cho các cơ sở sản xuất khác. Lượng men bia dư thừa có thể được sử dụng làm thức ăn cho lợn, cho cá hay làm các chất độn thực phẩm.

Và giải pháp cuối cùng cũng là giải pháp cơ bản của SXSH là: thay đổi sản phẩm, cải thiện chất lượng sản phẩm để làm giảm ô nhiễm. Thay đổi sản phẩm là việc xem xét lại sản phẩm và các yêu cầu đối với sản phẩm đó. Cải thiện, thiết kế sản phẩm có thể đem lại tiết kiệm về tiêu thụ nguyên liệu và lượng hóa chất độc hại sử dụng.

Trong thực tế, các nền công nghiệp hiện đại trên thế giới đều đã thực hiện thành công các giải pháp SXSH, để đạt các tiêu chí của sự phát triển bền vững.

Và việc ứng dụng giải pháp SXSH ở Bình Dương

Đến nay, tỉnh Bình Dương có khoảng 13.000 DN trong nước đăng ký kinh doanh và 2.000 DN có vốn đầu tư nước ngoài. Số lượng DN thuộc các thành phần kinh tế có khuynh hướng tăng qua các năm. Tuy nhiên, việc áp dụng SXSH vẫn còn hạn chế, một số cơ sở, DN tuy có triển khai SXSH nhưng chưa đồng bộ, vì vậy hiệu quả mang lại chưa cao. Theo khảo sát một số DN trên địa bàn tỉnh thì tiềm năng áp dụng SXSH trong các DN còn rất lớn, có thể tiết kiệm được các nguyên liệu, nhiên liệu, nước, hóa chất,… đặc biệt có thể tiết kiệm đến 25% năng lượng trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, hiện các DN chỉ mới chú trọng tới giải pháp xử lý môi trường của các chất thải cuối nguồn (xử lý cuối đường ống) mà chưa quan tâm sâu tới việc phòng ngừa, ứng phó sự cố về môi trường vào các quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường.

Để thực hiện có hiệu quả nội dung của Chiến lược quốc gia về SXSH trong công nghiệp đến năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành kế hoạch SXSH trong công nghiệp giai đoạn 2012-2015 ở Bình Dương, theo kế hoạch này, UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cho Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài Chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên & Môi trường, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Ban Quản lý Khu công nghiệp VSIP, báo, đài, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, các DN sản xuất công nghiệp, tổ chức tuyên truyền sâu rộng về SXSH đến tổ chức, cơ quan và DN nhằm nắm được lợi ích của việc SXSH, từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc áp dụng SXSH. UBND tỉnh cũng giao các ngành nhiệm vụ đào tạo, tập huấn về SXSH cho cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật của các cơ quan cấp tỉnh, huyện, thị xã và DN về công tác SXSH, để triển khai sâu rộng trên toàn địa bàn. Tỉnh cũng giao các ngành xây dựng các đề tài, dự án về quản lý, áp dụng SXSH trong công nghiệp trên địa bàn tỉnh, hướng dẫn, hỗ trợ thúc đẩy ứng dụng và cải tiến công nghệ nhằm phục vụ SXSH trong công nghiệp. Xây dựng, phổ biến các cơ sở dữ liệu theo ngành về suất tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu và năng lượng trên đơn vị sản phẩm nhằm triển khai, áp dụng SXSH trong công nghiệp. Xây dựng, phát triển đội ngũ chuyên gia SXSH cho các tổ chức tư vấn và đội ngũ cán bộ kỹ thuật về SXSH cho các cơ sở sản xuất công nghiệp. Hỗ trợ xây dựng mô hình thí điểm, nhân rộng các mô hình áp dụng SXSH trong công nghiệp cho các cơ sở sản xuất công nghiệp. Hỗ trợ một phần kinh phí cho các dự án áp dụng SXSH như đầu tư thay đổi, cải tiến dây chuyền công nghệ.

Với việc triển khai kế hoạch SXSH trên địa bàn, đến nay, việc áp dụng SXSH trong các cơ sởsản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắt đầu có sự chuyển biến tích cực. Một số DN đã nhận thức được lợi ích của việc áp dụng SXSH và đã từng bước cải tiến quản lý, đầu tư đổi mới công nghệ, sử dụng năng lượng tiết kiệm vàhiệu quả, sử dụng nguyên liệu thay thế phát sinh ít chất thải,… góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Theo baocungcau.vn