Bài viết

IEA kêu gọi đẩy mạnh việc triển khai công nghệ thu hồi carbon

IEA cho biết để đạt được mục tiêu này, lượng CO2 thu hồi phải tăng từ mức 40 triệu tấn hiện nay lên tới 800 triệu tấn vào năm 2030.

Ngày 24/9, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã nêu bật tầm quan trọng của việc đẩy mạnh triển khai công nghệ thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) trên toàn cầu, nếu như các nước muốn đạt được mục tiêu về trung hòa khí thải, nhằm làm chậm lại quá trình biến đổi khí hậu.

Nguồn: powerengineeringint

Ngày càng nhiều quốc gia và công ty đang đặt mục tiêu về trung hòa khí CO2 vào giữa thế kỷ này sau khi ký kết Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu vào năm 2015.

IEA cho biết để đạt được mục tiêu này, lượng CO2 thu hồi phải tăng từ mức 40 triệu tấn hiện nay lên tới 800 triệu tấn vào năm 2030. Điều này đòi hỏi số tiền đầu tư lên đến 160 tỷ USD cho công nghệ CCUS vào năm 2030, gấp 10 lần so với thập kỷ trước đó.

Giám đốc IEA Fatih Birol nhấn mạnh nếu không có công nghệ này, việc đạt được các mục tiêu về năng lượng và khí hậu sẽ gần như là bất khả thi.

IEA nhận định suy thoái kinh tế do đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 có nguy cơ dẫn đến tình trạng trì hoãn hoặc hủy bỏ các dự án vốn phụ thuộc vào hỗ trợ công. Giá dầu giảm cũng làm giảm bớt thu nhập cho các cơ sở CCUS chuyên bán CO2 để phục vụ việc khai thác dầu mỏ.

Thông qua công nghệ Tăng khả năng thu hồi dầu (EOR), CO2 sẽ được bơm vào giếng dầu để làm cho dầu dễ chảy hơn và tăng tỷ lệ khai thác.

IEA nhấn mạnh các gói phục hồi kinh tế là cơ hội để các chính phủ hỗ trợ CCUS bên cạnh các công nghệ năng lượng sạch khác.

Về khoản đầu tư lớn nhằm xây dựng hai nhà máy thu hồi carbon và cơ sở lưu trữ CO2 ngoài khơi, ông Birol cho biết Na Uy đã thể hiện được vai trò lãnh đạo tại châu Âu khi đưa ra cam kết tài chính lớn cho dự án Longship.

Tuy nhiên, CCUS vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn do thiếu động lực thương mại, chi phí lớn và việc người dân phản đối lưu trữ CO2, đặc biệt là ở ngoài khơi.

Trong năm 2009, IEA đã kêu gọi xây dựng 100 dự án CCUS quy mô lớn vào năm 2020 để lưu trữ khoảng 300 triệu tấn CO2/năm. Cho đến nay, chỉ có 20 dự án thương mại đang hoạt động với công suất khoảng 40 triệu tấn/năm./.

Đặng Ánh (TTXVN/Vietnam+)
https://www.vietnamplus.vn/iea-keu-goi-day-manh-viec-trien-khai-cong-nghe-thu-hoi-carbon/665756.vnp

Năng lượng sạch là xu thế toàn cầu

IEA nhấn mạnh, hydro đóng vai trò lớn và đa dạng trong việc đạt được mục tiêu trung hòa carbon.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) vừa công bố báo cáo “Triển vọng công nghệ năng lượng 2020”, nhấn mạnh hydro sẽ có vai trò quan trọng trong chuyển đổi nhiên liệu đầu vào đối với các ngành công nghiệp phát thải nhiều carbon. Theo IEA, thế giới cần nỗ lực lớn để phát triển và triển khai các công nghệ sạch ở quy mô toàn cầu nhằm đáp ứng các mục tiêu quốc tế về năng lượng và khí hậu, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngoài ngành điện như giao thông, xây dựng và công nghiệp. Tiến sĩ Fatih Birol, giám đốc điều hành của IEA cho biết, bất chấp những khó khăn từ đại dịch Covid-19, một số phát triển gần đây cho thấy cơ sở lạc quan về tốc độ chuyển đổi sang năng lượng sạch và đạt được các mục tiêu khí hậu và năng lượng.

Theo kịch bản phát triển bền vững của IEA – lộ trình đạt được các mục tiêu quốc tế về năng lượng và khí hậu, công suất điện phân nước toàn cầu sẽ tăng từ 300 MW hiện nay lên 3.300 GW vào năm 2080. Vào năm 2070, tổng điện năng tiêu thụ cho quá trình điện phân nước sẽ gấp đôi lượng điện năng tiêu thụ của Trung Quốc hiện nay. Cũng theo báo cáo của IEA, các chính phủ cần đóng một vai trò lớn hơn trong việc thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng sạch, hướng tới đáp ứng các mục tiêu quốc tế.

Các tập đoàn dầu khí châu Âu cũng gia tăng tài sản trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi.

Hãng tin Reuters đưa tin, lĩnh vực điện gió ngoài khơi đang có đồ thị phát triển đi lên ấn tượng, góp phần giúp các công ty dầu khí mở rộng quy mô hoạt động. Một số hãng dầu khí thời gian gần đây đã công bố mục tiêu tham vọng về sản xuất điện tái tạo khi nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

Equinor và Công ty phát triển điện lực Jera của Nhật Bản (J-Power) đã thành lập liên doanh để tham gia đấu thầu các dự án điện gió ngoài khơi khu vực Akita, phía bắc Nhật Bản.

Shell và Công ty năng lượng Eneco (Hà Lan) đã trúng thầu phát triển dự án điện gió ngoài khơi Hà Lan với công suất 750 MW, dự kiến khởi công vào năm 2023.

Total hợp tác với tập đoàn đầu tư Macquarie’s Green (Anh) phát triển 5 dự án điện gió nổi ngoài khơi quy mô lớn tại Hàn Quốc. Tổng công suất thiết kế của các dự án đạt 2,3 GW. Total dự kiến khởi công xây dựng dự án đầu tiên với công suất 500 MW vào cuối năm 2023. Cũng trong năm nay, Total đã mua lại 51% cổ phần trong dự án điện gió ngoài khơi SSE’s Seagreen tại Anh.

Chính phủ Pháp đã công bố Chiến lược phát triển hydro không carbon quốc gia với tổng kinh phí triển khai đạt 7 tỷ euro đến năm 2030. Mục tiêu tổng quát của chiến lược là đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng và xây dựng một khu vực công nghiệp hydro. 3 mục tiêu cụ thể của chiến lược gồm: Lắp đặt đủ số lượng các máy điện phân nước nhằm đóng góp đáng kể vào nền kinh tế khử carbon; Phát triển vận tải sạch, nhất là đối với các phương tiện vận tải hạng nặng; Xây dựng khu vực công nghiệp hydro tại Pháp, đảm bảo các lợi thế công nghệ, góp phần tạo ra từ 50.000 – 150.000 việc làm trực tiếp và gián tiếp cho người lao động Pháp.

Công suất điện phân nước tại Pháp dự kiến sẽ tăng lên 6,5 GW vào năm 2030, cao hơn so với mục tiêu 5 GW của Đức. Pháp có ngành công nghiệp điện hạt nhân lớn nhất thế giới và nhiều khả năng điện nguyên tử sẽ được dùng để sản xuất hydro không phát thải carbon. Pháp hiện tiêu thụ khoảng 900.000 tấn hydro mỗi năm, chủ yếu trong ngành công nghiệp lọc dầu và hóa chất của nước này, được sản xuất từ các nguồn năng lượng hóa thạch.

Viễn Đông

https://petrotimes.vn/nang-luong-sach-la-xu-the-toan-cau-578456.html

Năng lượng thế giới hậu khủng hoảng “xanh” hay “bẩn”?

Về tổng thể, có hai kịch bản phục hồi cho nền kinh tế thế giới sau khủng hoảng có thể xảy ra: “Xanh” với mức phát thải CO2 rất thấp cho đến năm 2050 và ngược lại, “bẩn” với các nền kinh tế vẫn sử dụng nhiều năng lượng có lượng khí thải CO2 theo quỹ đạo trước khủng hoảng.

Đại dịch Covid-19 đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) có dự báo đánh giá về tác động của cuộc khủng hoảng này đối với các khoản đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng năm 2020, đặc biệt là trong lĩnh vực dầu mỏ, nơi giá cả giảm mạnh.


95% năng lượng điện được lưu trữ dưới dạng đập thủy điện.

IEA đưa ra giả thuyết suy thoái gây ra bởi những hạn chế về đi lại và những hạn chế đối với hoạt động kinh tế sẽ gây ra hậu quả trong suốt cả năm 2020: Nhu cầu năng lượng toàn cầu sẽ giảm 6%, điện giảm 5%. Việc giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch trong năm 2020 (-8% đối với than) sẽ dẫn đến việc giảm đáng kể lượng khí thải CO2 toàn cầu (8%), gấp 6 lần so với cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008.

IEA dự đoán lượng đầu tư vào tất cả các lĩnh vực sản xuất và phân phối điện sẽ giảm, ngoại trừ thủy điện và điện gió ngoài khơi. Sự sụt giảm sẽ rất mạnh đối với điện mặt trời (gần 20%) và mạng lưới điện (9%).

IEA cũng thống kê về mức độ chi tiêu cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnh vực năng lượng ở các nước. So với GDP, chi tiêu công toàn cầu cho R&D sau khi giảm mạnh trong những năm 80 của thế kỷ trước, đã ổn định trong thập niên qua và tăng 3% vào năm 2019. Ngân sách R&D dành cho năng lượng có lượng phát thải carbon thấp chiếm 80% tổng chi tiêu trong tất cả các lĩnh vực năng lượng. Chi tiêu cho R&D của các công ty đạt 90 tỉ USD vào năm 2019; chi tiêu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo đã tăng 74% kể từ năm 2010; chi tiêu cho lĩnh vực điện và sản xuất hydro cũng tăng lên, trong khi những chi tiêu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và lưu trữ CO2 bị đình trệ…

Về tổng thể, có hai loại kịch bản phục hồi cho nền kinh tế thế giới sau khủng hoảng có thể xảy ra: “Xanh” với mức phát thải CO2 rất thấp cho đến năm 2050 và ngược lại, “bẩn” với các nền kinh tế vẫn sử dụng nhiều năng lượng có lượng khí thải CO2 theo quỹ đạo trước khủng hoảng.

Sau khi lượng khí thải giảm mạnh (8%) trong năm 2020, kịch bản “xanh” sẽ là: Sự tăng trưởng mạnh mẽ trong đầu tư sẽ giúp sản xuất năng lượng carbon thấp (chủ yếu là điện) với chi phí thấp và sử dụng chúng trong các lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng như nhà ở, giao thông, công nghiệp.

Tạp chí Nature ước tính rằng, vào năm 2050, kịch bản “bẩn” là sự gia tăng lượng khí thải CO2 tích lũy của nhiên liệu hóa thạch (230 Gt CO2) trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2050 so với kịch bản “xanh”.


Báo cáo về tác động của Covid-19 với ngành năng lượng thế giới.

Tuy nhiên, kịch bản “xanh” sẽ không cho phép trái đất đạt được tính trung hòa carbon vào năm 2050 và hơn thế, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ở châu Âu cũng như ở Mỹ đang kêu gọi giảm tiêu chuẩn khí thải trong một số lĩnh vực nhất định (đặc biệt là ngành công nghiệp ôtô). Tổng thống Trump tuyên bố hưởng ứng những lời kêu gọi này. Còn Trung Quốc tuyên bố sẽ không hạ ngay tỷ lệ than trong sản xuất điện của mình. Ở Pháp, lĩnh vực nhà ở chiếm 43% năng lượng tiêu thụ cuối cùng và 20% phát thải khí nhà kính. Việc cải tạo để nâng cao hiệu suất năng lượng ở lĩnh vực này được Chính phủ Pháp coi là ưu tiên, vì nó cho phép tiết kiệm năng lượng đáng kể và tạo ra việc làm.

Việc gia tăng đáng kể tỷ trọng năng lượng carbon thấp trong hỗn hợp năng lượng đòi hỏi nền kinh tế ngày càng “điện khí hóa”, đặc biệt là giao thông, một giả định được hầu hết các kịch bản áp dụng trước cuộc khủng hoảng và sự gia tăng của năng lượng tái tạo là ưu tiên cho các tình huống “sau khủng hoảng”.

Đối với việc sản xuất điện, có hai lưu ý quan trọng.

Thứ nhất, trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo không liên tục, dự trữ sản xuất sẽ là cần thiết, chi phí của khâu này lại hiếm khi được tính đến trong các kịch bản. Nó đặt ra một vấn đề kỹ thuật mà chúng ta vẫn thường thảo luận. Ngoài lựa chọn lưu trữ trong các đập (95% năng lượng điện được lưu trữ ngày nay), kỹ thuật dùng pin là giải pháp thay thế thường được xem xét nhất hiện nay với lĩnh vực lithium-ion. Nó cũng là kỹ thuật quan trọng để cơ giới hóa xe cộ và nếu chi phí của chúng giảm mạnh, cần phải tăng mật độ năng lượng của chúng (150 Wh/kg đối với pin lithium-ion), các lĩnh vực khác (lithium-air hoặc Zinc-air) đang được xem xét.

Lưu trữ hydro là một giải pháp thay thế thường được đề cập đến cho pin (kỹ thuật chuyển điện thành khí). Kỹ thuật này nhằm sản xuất hydro bằng cách điện phân nước, sau đó phản ứng với oxy trong pin nhiên liệu, với bạch kim làm chất xúc tác, điện được tái tạo. Kỹ thuật này có thể được sử dụng để bảo quản tĩnh tại nơi sản xuất hoặc trong xe điện.

Hydro “xanh” (được sản xuất bằng điện không phát thải carbon), một động lực năng lượng được xem xét trong một số kịch bản, gần đây đã trở thành cơn sốt thực sự. Các tập đoàn lớn sản xuất khí công nghiệp này từ khí tự nhiên đang đẩy mạnh hoạt động sản xuất hydro. Họ thậm chí không ngần ngại xem xét việc chế tạo một chiếc máy bay chạy bằng hydro.

Lưu ý thứ hai liên quan đến sự cân bằng của hỗn hợp điện. Sẽ không thực tế khi đặt mục tiêu vào năm 2050, hỗn hợp điện hoàn toàn do năng lượng tái tạo cung cấp. Điều này là không khả thi nếu tính đến những rủi ro mà sự gián đoạn của chúng gây ra đối với an ninh nguồn cung điện. Nói cách khác, nên để ngỏ lựa chọn hạt nhân cho các nước có năng lực (Pháp, Trung Quốc…), có thể dự phòng năng lượng bằng các nhà máy điện khí hiệu suất cao.

S.Phương
https://petrotimes.vn/nang-luong-the-gioi-hau-khung-hoang-xanh-hay-ban-577838.html