10 sự kiện nổi bật của ngành tài nguyên và môi trường năm 2014

Ngày 29/12, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chính thức công bố 10 sự kiện nổi bật của ngành tài nguyên và môi trường năm 2014 với nhiều cột mốc đáng chú ý.

Default_1

Vườn quốc gia Côn Đảo được Ban Thư ký Công ước Ramsar thế giới công nhận là khu đất ngập nước. (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN)

Trong đó phải kể đến việc Chính phủ cho phép Bộ Tài nguyên và Môi trường đầu tư hệ thống giám sát tài nguyên và môi trường biển, hải đảo bằng công nghệ viễn thám phủ trùm toàn bộ vùng biển-hải đảo Việt Nam; công bố thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực đất đai…

Theo Vietnam+, toàn bộ 10 sự kiện nổi bật:

1. Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014; công bố thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực đất đai.

Triển khai thực hiện Luật Đất đai năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng trình Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn cùng có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2014.

Song song với đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã xây dựng và công bố các thủ tục hành chính mới về lĩnh vực đất đai gồm 41 thủ tục đối với văn phòng đăng ký đất đai một cấp, giảm 30 thủ tục so với trước đây, 62 thủ tục đối với địa phương chưa thành lập văn phòng đăng ký đất đai một cấp, giảm 9 thủ tục so với trước đây.

2. Vườn quốc gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được Ban Thư ký Công ước Ramsar thế giới công nhận là khu đất ngập nước.

Ngày 1/11, tại Trung tâm Văn hóa-Thông tin-Thể thao huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận Vườn quốc gia Côn Đảo là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, do tổ chức công ước Ramsar trao tặng.

Đây là khu đất Ramsar có tầm quan trọng quốc tế thứ 2.203 của thế giới, thứ 6 của Việt Nam và là khu Ramsar đầu tiên của nước ta. Vườn quốc gia Côn Đảo hội tụ cả 4 hệ sinh thái rừng, biển đặc sắc và hiếm có trên thế giới được đưa vào danh sách hệ thống các khu vực biển quan trọng cần được bảo vệ trên phạm vi toàn cầu, là khu vực trọng điểm trong Kế hoạch hành động đa dạng sinh học quốc gia Việt Nam.

3. Lần đầu tiên các địa phương tính và thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định của Luật Khoáng sản.

Với việc tính và thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định của Luật Khoáng sản, năm 2014, cả địa phương đã tính tiền cấp quyền để thu 5.000 tỷ đồng, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước.

Việc tính và thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản căn cứ theo yêu cầu trữ lượng, chất lượng khoáng sản nằm trong lòng đất đã góp phần nâng cao công tác về quản lý nhà nước về khoáng sản.

4. Việt Nam chính thức gia nhập Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho mục đích phi giao thông thủy.

Việt Nam là quốc gia thứ 35 tham gia Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho mục đích phi giao thông thủy và chính thức đưa Công ước có hiệu lực sau gần 20 năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua.

Công ước này có hiệu lực từ ngày 17/8/2014.

5. Công bố 11 quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông lớn, quan trọng và đưa vào vận hành trong mùa lũ theo chỉ đạo của Chính phủ.

Ngày 5/12, tại Tỉnh ủy Đồng Nai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố “Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai” trong mùa lũ hàng năm, theo QĐ số 1892/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đây là quy trình vận hành liên hồ chứa thứ 11 và là một quy trình được đánh giá có quy mô lớn, cách thức vận hành khá phức tạp gồm 15 hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai, liên quan tới 8 địa phương từ đầu nguồn là tỉnh Lâm Đồng tới hạ lưu là Thành phố Hồ Chí Minh. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015.

Hình minh họa. (Nguồn: TTXVN)
6. Hoàn thành Báo cáo cập nhật hai năm một lần, lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Báo cáo gửi đến Ban Thư ký Công ước khí hậu tại Hội nghị lần thứ 20 các Bên tham gia Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu tổ chức tháng 12/2014 tại Lima, Peru. Báo cáo này đã được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Ban Thư ký Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu từ ngày 8/12/2014.

Việt Nam là một trong ba nước đang phát triển đầu tiên trên thế giới hoàn thành Báo cáo, góp phần thực hiện tốt nghĩa vụ và cam kết của Việt Nam trong việc tham gia thực hiện Công ước.

7. Lần đầu tiên thành phố Hà Nội hoàn thành vượt mức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất cho người mua nhà tại các dự án phát triển nhà ở.

Trong năm 2014, thành phố hà Nội đã tập trung đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất, đến nay đạt 66,9% diện tích cần cấp.

Cụ thể, Hà Nội đã cấp 2.000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tổ chức, gần 6.000 giấy đối với hộ gia đình, cá nhân và trên 40.000 giấy chứng nhận đã được cấp cho các hộ gia đình mua nhà tại các dự án phát triển nhà.

8. Lần đầu tiên hoàn thành hệ thống giám sát tài nguyên và môi trường biển, hải đảo bằng công nghệ viễn thám phủ trùm toàn bộ vùng biển và hải đảo Việt Nam.

Theo đó, ngành tài nguyên và môi trường đã xây dựng bộ bản đồ chuyên đề về lớp phủ bề mặt tỷ lệ 1:50:000 cho vùng ven biển và các đảo nổi; hệ thống bản đồ chuyên đề kèm theo các bộ số liệu về các yếu tố vật lý, hóa học, sinh vật và môi trường biển, hải đảo cho toàn bộ vùng lãnh hải Việt Nam; hệ thống giám sát đa thời gian tài nguyên môi trường biển và hải đảo.

Đặc biệt, ngành này đã thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:250.000 vùng quần đảo Hoàng Sa tỷ lệ 1:25.000 các đảo nổi và bãi đá ngầm độ sâu đến 10m.

Ảnh minh họa. (Nguồn: Sơn Bách/Vietnam+)
9. Giao các khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển tại Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 của Chính phủ.

Nghị định số 51/2014/NĐ-CP là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý tổng hợp, thống nhất biển và hải đảo; khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo.

10. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong toàn ngành, văn phòng một cửa hoạt động trở lại tại Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Trong năm 2014, cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính đã được hoạt động trở lại tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, góp phần nâng cao hiệu lực công tác chỉ đạo điều hành, đẩy mạnh cải cách hành chính và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp./.

Theo Vietnamplus.vn

Sắp có Khu công nghiệp 128 triệu USD ở Quảng Ninh

Chiều 24/12/2014, UBND tỉnh Quảng Ninh đã trao giấy chứng nhận đầu tư cho Dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN và cảng Nam Tiền Phong,  Đầm Nhà Mạc, thị xã Quảng Yên.

Dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp và cảng Nam Tiền Phong, Đầm Nhà Mạc, thị xã Quảng Yên là dự án 100% vốn nước ngoài, có diện tích 487 ha với tổng vốn đầu tư đăng ký 128 triệu USD.

Dự án sẽ hoàn thiện công tác chuẩn bị đầu tư và chính thức khởi công xây dựng trong năm 2015, thời gian thực hiện 8 năm với mục tiêu là hình thành một khu công nghiệp tập trung, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận các dự án, các ngành sản xuất công nghiệp; hội tụ đủ các điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ, phát triển bền vững, không gây ô nhiễm môi trường.

1

Theo ông Nguyễn Văn Đọc – Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh nhấn mạnh, dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN và cảng Nam Tiền Phong là dự án có ý nghĩa quan trọng, khẳng định quyết tâm tạo sự đột phá về hạ tầng, minh chứng cho những kết quả cụ thể về cải cách thủ tục hành chính của tỉnh Quảng Ninh, tạo dựng niềm tin đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp.

Tại buổi lễ, đại diện tỉnh Quảng Ninh đã yêu cầu chính quyền địa phương và các ngành chức năng tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất cho chủ đầu tư, tập trung công tác giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng cần thiết như điện, nước, giao thông để nhà đầu tư triển khai dự án nhanh và hiệu quả.

Theo Vietnamnet.vn

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ giúp bảo vệ môi trường

Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường là mục tiêu lâu dài, nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế đất nước. Để bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ (KHCN) cũng như tiếp nhận chuyển giao công nghệ của các nước tiên tiến là giải pháp quan trọng.

TSCT1

 Ứng dụng khoa học và công nghệ (Ảnh minh họa)

Với quan điểm “phát triển kinh tế-xã hội nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”, Việt Nam đã đẩy mạnh việc phát triển công nghệ mới, sạch giúp bảo vệ môi trường. Điển hình là việc triển khai mạnh mẽ đề án “Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đến năm 2020”được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1660/QĐ-TTg và chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước “nghiên cứu KHCN phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”.

Từ các đề án, chương trình này đã nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng các loại chế phẩm sinh học để xử lý chất thải y tế, chất thải công nghiệp, chất thải chăn nuôi và các chất thải nguy hạikhác; các công nghệ dự báo thiên tai; hệ thống thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề, cơ sở chăn nuôi, bãi rác… Tiêu biểu, như việc nghiên cứu thành công chế phẩm sinh học BIOMIX1 trongxử lý chất thải gia súc, gia cầm và rơm, rạ thành phân hữu cơ đã góp phần cải thiện đáng kể môi trường nông thôn và nâng cao năng suất cây trồng. Ước tính, cứ khoảng 60 tấn chế phẩmBIOMIX1 dùng để xử lý rơm rạ, phân gia súc, gia cầm sẽ cho ra khoảng 60.000 tấn phân hữu cơ sạch dùng cho sản xuất nông nghiệp, tiết kiệm đáng kể chi phí sản xuất. Hay việc xây dựng hầm biogas vừa góp phần giải quyết vấn đề năng lượng vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng dân cư và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, các giải pháp kỹ thuật phòng tránh bão lũ đã được ứng dụng rộng rãi và ngày một hiện đại như: dự báo thiên tai trước 5 ngày, vận hành liên hồ chứa, quy hoạch các công trình thủy lợi, thủy điện, các chất phụ gia chống xói mòn đất…, đã giúp hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra mỗi năm. Hơn nữa, việc triển khai chương trình, đề án còn giúp đào tạo hàng trăm kỹ thuật viên về môi trường trong nước.

Tại các doanh nghiệp, việc ứng dụng các công nghệ mới giúp bảo vệ môi trường cũng được triển khai mạnh mẽ. Chẳng hạn tại các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), từ khi áp dụng dây chuyền tuyển than hiện đại với các module công suất lớn lên đến 250.000 tấn/năm, 650.000 tấn/năm, vừa tận thu triệt để sản lượng than so với công nghệ cũ (tăng từ 20-30%), tăng năng suất lao động do được cơ giới hóa, giảm thiểu đáng kể ô nhiễm môi trường và bệnh nghề nghiệp cho người lao động do giảm mật độ các nguồn gây bụi và phát thải khí độc hại trên mỏ. Hay, nhằm ổn định sườn bãi thải, khai trường than, tại các mỏ than đã sử dụng giải pháp trồng cỏ vetiver. Chỉ sau hơn 1 năm trồng, loại cỏ này sẽ có bộ rễ chùm với chiều dài 1,2m -1,4m, tạo thành bộ lưới sinh học giữ cho đất đá trên sườn bãi thải không bị sạt lở…

Theo Luật Bảo vệ Môi trường, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khi đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có ứng dụng các giải pháp KHCN mới, sẽ được ưu tiên vay vốn từ các quỹ bảo vệ môi trường; trường hợp vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác để đầu tư bảo vệ môi trường thì được xem xét hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc bảo lãnh tín dụng đầu tư theo điều lệ của quỹ bảo vệ môi trường. Đặc biệt, Nghị định số 04/2009/NĐ-CP của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường còn quy định rõ, các tổ chức, cá nhân khi có dự án đầu tư nghiên cứu khoa học, chuyển giao và ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường sẽ được ưu đãi hỗ trợ về đất đai, vốn, miễn hoặc giảm thuế, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm…Với những chính sách này, hy vọng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới để bảo vệ môi trường, góp phần tạo nên một môi trường xanh, sạch, đẹp./.

Theo ven.vn

Lợi ích của doanh nghiệp khi áp dụng sản xuất sạch hơn vào dây chuyền sản xuất

Trong thời buổi kinh tế thị trường nhiều ngành công nghiệp ra đời kèm theo đó là vấn đề ô nhiễm môi trường. Để đảm bảo phát triển bền vững, tăng lợi nhuận về kinh tế và đồng hành cùng với công tác bảo vệ môi trường nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư đã lựa chọn và áp dụng sản xuất sạch hơn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.

Story

Công ty CPTM Hương Giang

Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp được Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 07 tháng 9 năm 2009 và có nhiều doanh nghiệp áp dụng vào trong sản xuất. Thời gian qua các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định đã bắt đầu có sự chuyển biến tích cực trong việc áp dụng sản xuất sạch hơn vào trong dây chuyền sản xuất của đơn vị mình.

Công ty CPTM Hương Giang (khu CN Hòa Xá, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) là một trong số những doanh nghiệp điển hình đã triển khai áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn vào quá trình sản xuất. Công ty có tiềm lực mạnh về công nghệ sản xuất chế biến xay xát gạo, chuyên sản xuất các sản phẩm gạo thơm, gạo đặc sản, gạo cao cấp,… Sản phẩm gạo chế biến của Công ty được đánh giá là một trong những sản phẩm có chất lượng cao, có khả năng đáp ứng nhều nhu cầu của khách hàng, giá thành hợp lý và có tính cạnh tranh so với các sản phẩm khác đang có trên thị trường trong nước. Từ một đơn vị khiêm tốn về cơ sở vật chất ban đầu, Công ty đã có bước phát triển đột phá không ngừng cả về quy mô sản xuất, giá trị sản xuất kinh doanh, khách hàng và thị trường. Với công suất thiết kế ban đầu là 3 tấn/ giờ, sau một thời gian phát triển, tìm kiếm thị trường Công ty đã nâng cấp dây chuyền lên 5 tấn/giờ. Từ năm 2010 đến nay, sản phẩm của Công ty đã có mặt ở tất cả các tỉnh thành trên cả nước.

Trong quá trình sản xuất, ngay từ ngày đầu Công ty đã đưa hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 áp dụng trong toàn bộ hệ thống sản xuất kinh doanh của mình công suất đạt 4,3-4,5 tấn gạo/giờ.

Nhờ áp dụng thiết bị hiện đại Công ty đã thu được những lợi ích như: hạn chế thất thoát hao phí trong khâu sản xuất, nâng cao năng suất, giảm chi phí liên quan đến thu gom và xử lý chất thải; tăng cường ý thức của người lao động về bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường làm việc, góp phần bảo vệ sức khoẻ người lao động; lượng trấu phế thải được chế biến thành chất phụ gia để sản xuất thức ăn gia súc. Với những giải pháp mà Công ty đã triển khai thì doanh thu hàng năm của Công ty đều trên mức 100 tỷ và đảm bảo việc làm cho 60-70 lao động thường xuyên.

Trong bối cảnh nước ta đang hướng đến nền kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, kết hợp mục tiêu phát triển kinh tế bền vững thì sản xuất sạch hơn có thể xem như một giải pháp phù hợp để các doanh nghiệp áp dụng. Việc tham gia áp dụng và thực hiện sản xuất sạch hơn sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp một cách mạnh mẽ; tạo được lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường./.

Theo ipc1.gov.vn

Quảng Ngãi phấn đấu đạt 53,2 MW điện tái tạo vào năm 2020

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa phê duyệt Quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2012-2020, có xét đến năm 2030.

Theo Quy hoạch, giai đoạn 2013 – 2020, định hướng phát triển nguồn điện tái tạo nối lưới: phát triển 53,2MW, trong đó thuỷ điện nhỏ là 19,8MW; điện khí sinh học 4,0MW; điện từ đốt chất thải rắn công nghiệp và đô thị 2MW; điện bã mía 6,0MW; điện địa nhiệt 21,4MW.

Nghiên cứu năng lượng gió tại đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). (Ảnh: Catdien.com)

Nghiên cứu năng lượng gió tại đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). (Ảnh: Catdien.com)

Phát triển nguồn điện tái tạo phục vụ công cuộc điện khí hoá nông thôn vùng sâu, vùng xa ngoài lưới, cung cấp điện cho 128 hộ bằng hệ thống pin mặt trời (PV) với mô công suất là 42,24kWp.

Phát triển nguồn điện tái tạo ngoài lưới, cung cấp tự dùng cho các trang trại chăn nuôi quy mô trung bình; đến năm 2020, phát triển và ứng dụng khoảng 1.120 m3 hầm khí sinh học cho phát điện.

Đối với các chương trình khai thác năng lượng tái tạo cho nhiệt và nhiên liệu sinh học, giai đoạn đến năm 2020, phát triển và ứng dụng 7.779 m2 thiết bị đun nước nóng mặt trời; 223,6 nghìn m3 hầm khí sinh học, 28,7 nghìn bếp đun sinh khối cải tiến; 23 nghìn bếp khí hoá sinh khối và sản lượng ethanol 56 triệu lít/năm.

Giai đoạn 2020 – 2030, định hướng phát triển nguồn điện tái tạo nối lưới, phát triển 23,8MW, trong đó thuỷ điện nhỏ là 13,0MW (chiếm 54,62%); điện từ đốt chất thải rắn công nghiệp và đô thị 1,5MW (6,30%); điện gió 3,3MW (13,87%); điện mặt trời 6MW (25,21%)…

Mục tiêu của quy hoạch nhằm đánh giá tổng quan tiềm năng và hiện trạng khai thác, sử dụng nguồn NLTT trên địa bàn tỉnh; đánh giá, phân tích và lựa chọn các nguồn năng lượng tái tạo cho khai thác và sử dụng trên cơ sở tiềm năng và khả năng khai thác năng lượng tái tạo để đáp ứng một phần nhu cầu năng lượng của tỉnh và khu vực lân cận; lập phương án khai thác và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo của tỉnh…

Theo NangluongVietnam.vn

Hà Nội thí điểm mô hình xử lý rác thải nông thôn công nghệ cao

Hiện nay, khu vực 17 huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội thải ra môi trường từ 2.500-3.000 tấn rác mỗi ngày. Tại một số địa phương đông dân cư, lượng rác thải phát sinh quá lớn còn khiến tình trạng ô nhiễm ngày càng nhức nhối.

Xác định trách nhiệm quản lý nhà nuớc trong lĩnh vực này, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã khảo sát, đánh giá toàn diện cơ sở hạ tầng kỹ thuật công tác vệ sinh môi truờng; cơ chế quản lý, quy trình, định mức công tác vệ sinh nông thôn tại các huyện trên toàn thành phố.

Từ kết quả khảo sát đánh giá thực trạng quản lý rác thải, Sở Tài nguyên và Môi truờng Hà Nội đã chỉ đạo công tác vệ sinh môi truờng nông thôn theo hướng giải quyết những vấn đề dân sinh bức xúc truớc mắt như chôn lấp rác phân tán tạm thời; xây dựng những điểm tập kết rác tạm thời để giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong khu dân cư.

Ngoài ra, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cũng tập trung các giải pháp mang tính lâu dài như quy hoạch các cơ sở xử lý rác bằng công nghệ tiên tiến phân bố theo vùng (huyện), liên vùng (quận-huyện) để kêu gọi đầu tư giải quyết rác nông thôn một cách triệt để.

Nhìn nhận ở góc độ cơ quan quản lý nhà nước, ông Nguyễn Văn Lý, Chi cục trưởng Bảo vệ Môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội) cho biết, mặc dù công tác xử lý rác thải trên địa bàn thành phố đã được cải tạo, nâng cấp trong những năm gần đây nhưng điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại khu vực nông thôn ngoại thành vẫn chưa được đồng bộ.

“Để giải quyết vấn đề này, thành phố đã đồng ý cho các huyện quản lý toàn diện công tác vệ sinh môi trường nông thôn từ khâu thu gom đến khâu vận chuyển và xử lý rác bằng công nghệ cao theo cơ chế thực hiện tại chỗ. Việc này nhằm giảm chi phí vận chuyển, quản lý chặt chẽ khối luợng rác và giảm áp lực cho các khu xử lý rác tập trung trên địa bàn,” ông Lý nhấn mạnh.

Đại diện Chi cục trưởng Bảo vệ Môi trường Hà Nội cũng cho biết, từ chủ trương phân cấp và giao nhiệm vụ xử lý rác tại chỗ cho các huyện tổ chức thực hiện, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã phối hợp với Uỷ ban Nhân dân các huyện Thanh Oai, huyện Phú Xuyên, Ứng Hoà, Mỹ Đức… lựa chọn các đơn vị vệ sinh môi trường có đủ năng lực, công nghệ để triển khai đầu tư các cơ sở xử lý rác.

23122014_thidiemmohinh-500x375

Thiết bị xử lý rác thải nông thôn. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Trước thực tế nêu trên, mới đây, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã giao Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Nam Thăng Long (đơn vị có đủ năng lực đáp ứng đuợc các yêu cầu kỹ thuật đồng bộ cả 3 khâu thu gom-vận chuyển-xử lý rác) thí điểm đầu tư công trình xử lý rác thải nông thôn tại huyện Thanh Oai, với công suất 100 đến 120 tấn/ngày.

Về phía địa phương, ông Lê Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Thanh Oai cho biết, để đảm bảo chất lượng vệ sinh môi trường và tiết kiệm kinh phí cho ngân sách, huyện sẽ tạo điều kiện cho Công ty môi trường Nam Thăng Long thực hiện đầu tư ứng dụng công nghệ trung chuyển và xử lý rác hữu cơ bằng chế phẩm sinh học trên địa bàn huyện với mục tiêu thu gom-vận chuyển-xử lý hết rác.

Phó Chủ tịch Lê Tuấn Anh cũng tin tưởng, cùng với việc xây dựng nông thôn mới của huyện, công trình trạm trung chuyển và xử lý rác nông thôn sau khi đi vào hoạt động, năng lực thu gom rác của huyện sẽ tăng từ 65-95% nên gần như không còn rác phát sinh tồn đọng tại các xã. Đặc biệt, kinh phí vệ sinh môi trường sẽ giảm từ 12-15% so với mô hình và phương thức thu gom rồi đem đi chôn lấp như trước kia.

“Dự kiến, trước Tết âm lịch Ất Mùi sẽ xóa hết 100% các điểm rác tồn đọng gây ô nhiễm tại các thôn, xã trên địa bàn huyện,” Phó Chủ tịch Lê Tuấn Anh nhấn mạnh.

Theo Hùng Võ/ VietnamPlus