13 Luật sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2015

Đó là các Luật Việc làm; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế; Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Luật Xây dựng; Luật Phá sản; Luật Đầu tư công; Luật Hải quan; Luật Công chứng; Luật Bảo vệ môi trường; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều các luật về thuế; Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Luật Hôn nhân và gia đình.

ttxvn_luatvieclam141223

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Việc làm. (Ảnh: Nguyễn Dân/TTXVN)

Bảo đảm việc làm bền vững cho người lao động

Luật Việc làm gồm 7 chương 62 điều, điều chỉnh 5 nhóm vấn đề lớn: chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm và bảo hiểm thất nghiệp.

Chính sách việc làm công là chính sách mới được quy định trong Luật, với mục tiêu cung cấp việc làm tạm thời có trả công cho người lao động thông qua việc thực hiện dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn với các chương trình phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn cấp xã, gồm xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng; bảo vệ môi trường; ứng phó với biến đổi khí hậu; các dự án, hoạt động phục vụ cộng đồng tại địa phương.

Việc thực hiện chính sách việc làm công sẽ góp phần quan trọng giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, chất lượng công trình với sự tham gia trực tiếp của người dân.

Lần đầu tiên thông tin thị trường lao động được quy định trong văn bản luật, góp phần phát triển thị trường lao động năng động, cạnh tranh, minh bạch và thống nhất. Luật Việc làm cũng quy định việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia nhằm công nhận cấp độ kỹ năng nghề nghiệp theo trình độ của người lao động và người lao động được tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia để hoàn thiện năng lực nghề nghiệp, tìm công việc phù hợp hoặc công việc yêu cầu phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.

Hướng đến lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Bảo hiểm y tế có 2 điều. Điểm mới quan trọng có tính đột phá mạnh mẽ của Luật là đã sửa đổi quy định các đối tượng “có trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế” thành “bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc” nhằm khẳng định mọi đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm y tế để thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.

Luật sắp xếp lại 25 nhóm đối tượng thành 5 nhóm theo trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế và quy định lực lượng công an và quân đội cùng tham gia hệ thống bảo hiểm y tế và người đang tại ngũ trong quân đội; thân nhân của học viên công an và học viên cơ yếu; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế.

Các đối tượng được hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế được quy định trong Luật gồm: người có công với cách mạng; trẻ em dưới 6 tuổi; người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội; người thuộc hộ gia đình nghèo; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Luật bổ sung quyền lợi của trẻ em dưới 6 tuổi; quỹ bảo hiểm y tế thanh toán trong các trường hợp tự tử, tự gây thương tích, tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; nâng mức hưởng bảo hiểm y tế đối với một số đối tượng và mở thông tuyến khám chữa bệnh bảo hiểm y tế từ 1/1/2016.

Tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

So với Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 và các văn bản hướng dẫn hiện hành, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam có nhiều điểm mới.

Luật gồm 9 chương, 55 điều, quy định rõ nguyên tắc người nước ngoài có nhiều hộ chiếu chỉ được sử dụng một hộ chiếu để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam. Quy định này nhằm tránh phát sinh phức tạp trong quan hệ đối ngoại, hình sự, dân sự, đồng thời đảm bảo công tác thống kê nhà nước chính xác.

Theo Luật, thị thực không được chuyển đổi mục đích nhằm đảm bảo công tác quản lý, khắc phục tình trạng người nước ngoài xin vào Việt Nam du lịch sau đó làm việc tại các công trình, dự án như thời gian qua.

Thị thực cấp cho người nước ngoài vào lao động có thời hạn tối đa đến 2 năm; thị thực cấp cho người nước ngoài vào đầu tư và luật sư nước ngoài vào hành nghề tại Việt Nam có thời hạn tối đa đến 5 năm nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống luật.

Luật bỏ quy định cho phép cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực Việt Nam ở nước ngoài được cấp thị thực cho các trường hợp không có cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mời, bảo lãnh.

Luật mở rộng đối tượng được xét cho thường trú đối với người nước ngoài là nhà khoa học, chuyên gia và người không quốc tịch đã tạm trú liên tục tại Việt Nam từ trước năm 2000; đồng thời quy định cụ thể điều kiện xét cho thường trú.

Khắc phục thất thoát, lãng phí, nâng cao chất lượng các công trình xây dựng

Với 10 chương, 168 điều, tăng 1 chương, 45 điều so với Luật Xây dựng (2003), nguyên tắc cơ bản và cũng là nội dung cốt lõi của Luật Xây dựng 2014 là đổi mới phương thức, nội dung quản lý dự án nhằm quản lý chặt chẽ đối với dự án sử dụng vốn nhà nước; khắc phục thất thoát và lãng phí, nâng cao chất lượng các công trình xây dựng; đồng thời, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư xây dựng.

Luật quy định nguyên tắc dự án sử dụng nguồn vốn khác nhau được quản lý theo các phương thức khác nhau; tăng cường sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước và của cộng đồng đối với dự án; bổ sung quy định hình thức ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực.

Luật sửa đổi, bổ sung quy định về quy hoạch xây dựng để góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng đảm bảo xây dựng theo quy hoạch, có kế hoạch nhằm khắc phục tình trạng đầu tư tự phát, đầu tư theo phong trào dẫn đến thất thoát lãng phí các nguồn lực.

Nhằm tránh tình trạng điều chỉnh quy hoạch xây dựng tùy tiện, Luật đã được bổ sung nội dung quy định cơ quan tổ chức lập điều chỉnh cục bộ quy hoạch xây dựng có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư trong khu vực điều chỉnh quy hoạch và các khu vực xung quanh có ảnh hưởng trực tiếp.

Công khai thủ tục, trình tự giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản

Luật Phá sản gồm 14 chương, 133 điều, quy định trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giải quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi hành quyết định phá sản.

Luật Phá sản quy định cá nhân doanh nghiệp được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết phá sản gồm: quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Quy định này nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế phối hợp, tính chất kiêm nhiệm của các thành viên trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản theo quy định của Luật Phá sản năm 2004.

Tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu quả đầu tư công

Luật Đầu tư công được kết cấu thành 6 chương, 108 điều. Việc thể chế hóa quy trình quyết định chủ trương đầu tư là nội dung mới quan trọng nhất của Luật. Đó là điểm khởi đầu quyết định tính đúng đắn, hiệu quả của chương trình, dự án theo đúng các mục tiêu, định hướng, kế hoạch, quy hoạch và chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước; ngăn chặn sự tùy tiện, chủ quan, duy ý chí và đơn giản trong việc quyết định chủ trương đầu tư, nâng cao trách nhiệm của người ra quyết định chủ trương đầu tư; góp phần khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư công.

Tăng cường và đổi mới công tác thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn, coi đó là một trong những nội dung quan trọng nhất của công tác thẩm định chương trình, dự án đầu tư công. Với việc thực hiện nghiêm các chế định về thẩm định nguồn vốn và cân đối vốn, sẽ bảo đảm bố trí về thẩm định nguồn vốn và cân đối vốn sẽ bảo đảm bố trí vốn một cách tập trung cho các mục tiêu, dự án ưu tiên cần thiết phải đầu tư, khắc phục tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án, dẫn đến bố trí vốn dàn trải, kéo dài thời gian thi công, mà không tính đến việc huy động và cân đối các nguồn vốn như trong thời gian vừa qua.

Luật tăng cường công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công. Đây là lần đầu tiên công tác theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư và các chương trình, dự án đầu tư công, đặc biệt các quy định về giám sát cộng đồng được chế định cụ thể trong luật một cách chặt chẽ, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan

Những nội dung mới của Luật Hải quan được chia thành 4 nhóm vấn đề: Nhóm vấn đề về cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hóa quản lý hải quan, nội luật hóa các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Nhóm vấn đề về nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan; tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia và an ninh kinh tế nhằm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại.

Nhóm vấn đề sửa đổi, bổ sung những quy định trong Luật hiện hành để bảo đảm tính thống nhất, khả thi của pháp luật hải quan, phù hợp với văn bản pháp luật có liên quan và thực tế hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.

Nhóm vấn đề liên quan đến kiện toàn hệ thống tổ chức hải quan.

Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Hải quan là đổi mới toàn diện hoạt động hải quan thông qua tạo điều kiện áp dụng quản lý hải quan hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia; góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tăng cường trách nhiệm của công chứng viên

Luật Công chứng năm 2014 quy định chặt hơn về tiêu chuẩn công chứng viên; thời gian đào tạo nghề công chứng được tăng lên thành 12 tháng; người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 5 năm trở lên, luật sư phải hành nghề từ 5 năm trở lên mới được miễn đào tạo nghề công chứng.

Luật tiếp tục ghi nhận hai loại hình tổ chức hành nghề công chứng là Phòng công chứng và Văn phòng công chứng, song xác định rõ định hướng đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động công chứng, ưu tiên phát triển các Văn phòng công chứng. Luật cũng quy định việc thành lập các tổ chức hành nghề công chứng phải phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng.

Luật quy định rõ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên là loại hình bảo hiểm bắt buộc và giao Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với loại bảo hiểm này.

Trách nhiệm bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng và trách nhiệm bồi hoàn của công chứng viên cũng được Luật quy định rõ nhằm ràng buộc trách nhiệm giữa công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng, tránh tình trạng đổ lỗi, trốn tránh trách nhiệm bồi thường.

Bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của nhân dân

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 gồm 20 chương, 170 điều, tăng 5 chương, 34 điều so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.

Quy hoạch bảo vệ môi trường là một nội dung mới được bổ sung trong Luật Bảo vệ môi trường. Quy định này nhằm xây dựng cách nhìn tổng thể, dài hạn và chủ động triển khai công tác bảo vệ môi trường, thực sự gắn bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế, an sinh xã hội và là cơ sở để điều chỉnh hoặc xây dựng các quy hoạch phát triển khác, bảo đảm phát triển bền vững.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có một chương quy định về ứng phó biển đổi khí hậu để đáp ứng các yêu cầu cấp thiết về ứng phó với biển đổi khí hậu hiện nay, thể chế hóa một số nghị quyết của Đảng về nội dung này. Luật có một chương quy định về bảo vệ môi trường biển và hải đảo nhằm đảm bảo tính thống nhất và toàn diện.

Phát triển giao thông đường thủy nội địa

Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa bổ sung quy định về nguyên tắc phát triển giao thông đường thủy nội địa. Trong đó, Luật quy định: phát triển giao thông đường thủy nội địa phải phù hợp với quy hoạch phát triển giao thông vận tải, bảo đảm quốc phòng an ninh; phát triển cơ cấu hạ tầng giao thông vận tải đường thủy nội địa theo hướng hiện đại, đồng bộ về luồng, tuyến, cảng, bến, công nghệ quản lý, xếp dỡ hàng hóa; bảo đảm an toàn giao thông, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển vận tải đường thủy nội địa phải kết nối đồng bộ với các phương thức vận tải khác.

Hoạt động tìm kiếm, cứu nạn giao thông đường thủy nội địa là hoạt động mang tính chất nhân đạo, bắt buộc các tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện. Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung 4 điều quy định cụ thể về tìm kiếm cứu nạn giao thông đường thủy nội địa; nguyên tắc hoạt động tìm kiếm, cứu nạn giao thông đường thủy nội địa; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi xảy ra tai nạn giao thông đường thủy nội địa và các bảo đảm điều kiện cho hoạt động tìm kiếm, cứu hộ giao thông đường thủy nội địa.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa công tác quản lý thuế

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động chế biến nông sản, thủy sản của hợp tác xã và của doanh nghiệp tại địa bàn đặc biệt khó khăn.

Áp dụng mức thuế suất 10% đối với thu nhập từ hoạt động chế biến nông sản, thủy sản của hợp tác xã và của doanh nghiệp tại địa bàn khó khăn. Áp dụng thuế suất 15% đối với thu nhập của doanh nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.

Về thuế giá trị gia tăng, Luật bổ sung đối tượng không chịu thuế đối với tàu đánh bắt xa bờ; chuyển ba nhóm mặt hàng thuộc diện áp dụng thuế suất 5% sang đối tượng không chịu thuế là: phân bón; thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Luật cũng bổ sung thu nhập thuộc diện miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế; thu nhập cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản xa bờ và thu nhập của thuyền viên làm việc trên tàu…

Bảo vệ an toàn sản xuất nông nghiệp

Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật gồm 5 chương, 77 điều, bổ sung một số nguyên tắc mới trong hoạt động bảo vệ và kiểm dịch thực vật, đó là nguyên tắc về phòng, chống sinh vật gây hại thực hiện theo phương châm phòng là chính; áp dụng biện pháp quản lý tổng hợp sinh vật gây hại theo hướng bền vững, trong đó ưu tiên biện pháp sinh học, sử dụng giống cây trồng chống chịu sinh vật gây hại, biện pháp kỹ thuật canh tác, thực hành nông nghiệp tốt; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải thực hiện nguyên tắc bốn đúng để bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người, an toàn thực phẩm, hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường, bảo vệ hệ sinh thái.

Luật quy định các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó nhấn mạnh các hành vi nghiêm cấm đưa đất, nhập khẩu sinh vật gây hại vào Việt Nam, nhân nuôi sinh vật gây hại; sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản, vận chuyển, thải bỏ, thu gom, xử lý thuốc và bao gói thuốc bảo vệ thực vật trái quy định. Các hành vi này sẽ được quy định chi tiết đồng thời có chế tài xử lý vi phạm tại Nghị định hướng dẫn về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

Bổ sung chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Với 9 chương, 133 điều, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi quy định về tuổi kết hôn để có sự thống nhất trong cách tính tuổi của người kết hôn và bảo đảm thống nhất với quy định của Bộ luật dân sự, các luật khác có liên quan. Theo đó, nam phải từ đủ 20 tuổi, nữ phải từ đủ 18 tuổi mới có quyền kết hôn.

Luật bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính nhằm tránh sự phân biệt, kỳ thị đối với người đồng tính và can thiệp vào quan hệ chung sống giữa những người cùng giới tính. Tuy nhiên, thể hiện quan điểm hôn nhân phải là sự liên kết giữa hai người khác giới tính, khoản 2 Điều 8 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.

Luật sửa đổi, bổ sung quy định giải quyết quan hệ nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Điểm mới rất quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình là bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Việc thừa nhận chế độ tài sản này là nhằm tôn trọng quyền của vợ chồng trong việc tự thỏa thuận, định đoạt đối với tài sản của họ. Dù lựa chọn chế độ tài sản nào, vợ chồng đều phải bảo đảm lợi ích chung của gia đình, nhất là lợi ích của con.

Luật bổ sung chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Việc bổ sung quy định này nhằm đáp ứng nhu cầu của các cặp vợ chồng muốn có con nhưng người vợ không thể mang thai và sinh con./.

Theo Vietnamplus.vn

Đan Mạch hỗ trợ 11 triệu đô cho doanh nghiệp Việt tiết kiệm năng lượng

Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam John Nielsen khẳng định doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) các lĩnh vực gạch, gốm và chế biến thực phẩm của Việt Nam có thể vay từ 20 – 200 ngàn USD từ Quỹ Tiết kiệm nhiên liệu để đầu tư, áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng (TKNL).

John Nielsen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam. (Ảnh: Doanh Nhân Sài Gòn Online)

 John Nielsen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam. (Ảnh: Doanh Nhân Sài Gòn Online)

* Mục tiêu là hỗ trợ DNNVV Việt Nam TKNL, vậy các ông đã xây dựng cơ chế của quỹ tài chính này như thế nào?

– Từ năm 2009, Đại sứ quán Đan Mạch đã bắt đầu chương trình hỗ trợ về TKNL cho DN Việt Nam. Thoạt tiên, chúng tôi áp dụng cho các DN lớn, sau đó hỗ trợ các DNNVV vì nhận thấy họ có nhu cầu rất rõ ràng.

Thực tế vài năm qua, tôi đã chứng kiến các DNNVV của Việt Nam gặp những khó khăn nhất định khi tiếp cận nguồn vốn đầu tư vào TKNL, thậm chí một số DN đã phải đóng cửa.

Đan Mạch quyết định hỗ trợ 11 triệu USD đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực TKNL tại Việt Nam. Theo đó, một thỏa thuận khung vừa được ký, trong đó ANZ được ủy nhiệm là ngân hàng duy nhất nắm giữ Quỹ TKNL của Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam với 6,5 triệu USD.

Cơ chế tài trợ vốn này có hiệu lực từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2017.

Chúng tôi sẽ hỗ trợ DN với hai mục tiêu: DN có thể tiết kiệm nguồn vốn đầu tư và có thể sử dụng năng lượng hiệu quả hơn. Điều này sẽ giảm ô nhiễm môi trường và giảm chi phí cho chính DN.

* Cơ chế thưởng được xem là sự khác biệt của Quỹ TKNL, ông có thể nói rõ hơn về điều này?

– Về thưởng cho DN, chúng tôi có cơ chế rất rõ ràng. Các DN đạt mục tiêu TKNL mức 50% sẽ được thưởng 30% chi phí đầu tư. Nếu DN tiết kiệm được 40% năng lượng sẽ được thưởng 23% chi phí đầu tư.

Nếu DN đạt được mục tiêu 30% năng lượng sẽ được thưởng 16% chi phí đầu tư. Nếu DN tiết kiệm được 20% năng lượng, chúng tôi sẽ thưởng 10% chi phí đầu tư.

* Đây là một tin tốt cho DN Việt Nam, nhưng làm thế nào để các DN trong ba lĩnh vực này tiếp cận được thông tin, nộp hồ sơ thuận lợi và vay được vốn?

– DN có thể truy cập thông tin từ trang web chúng tôi sẽ khai trương vào tháng 1/2015. Bên cạnh đó, các chương trình quảng bá cũng sẽ được thực hiện.

Chúng tôi sẽ có hành trình xuyên Việt để giới thiệu về Quỹ và cơ chế cho các DN vay. Các ngân hàng cho vay cũng có kênh riêng để tiếp cận DN và cho vay vốn khi DN có yêu cầu.

* Phía Đan Mạch sẽ giám sát hoạt động của Quỹ thế nào để đảm bảo được sự minh bạch?

– Chúng tôi đã lựa chọn đối tác đáng tin cậy là Ngân hàng ANZ. Chúng tôi cũng sẽ giám sát và kiểm toán toàn bộ quá trình thực hiện nữa, nên hoàn toàn tin tưởng Quỹ sẽ hoạt động minh bạch và hiệu quả.

* Ở Việt Nam hiện nay có nhiều quỹ hỗ trợ DN TKNL nhưng hầu hết DN hoặc DNNVV không tiếp cận được nguồn vốn, hoặc số vốn quá ít không đủ cho áp dụng các biện pháp TKNL trong sản xuất khiến lòng tin vào các chương trình TKNL giảm sút. Trong bối cảnh đó, các ông xác lập lại lòng tin cho DN dựa trên những yếu tố nào?

– Tôi không thể khẳng định sẽ gây dựng lại được toàn bộ lòng tin của DN, nhưng chúng tôi đã làm việc với các chuyên gia, các nhà tư vấn, cố gắng tìm ra một cơ chế để Quỹ hoạt động hiệu quả nhất. Chúng tôi tin tưởng dự án sẽ thành công với những cơ chế đã đề ra.

* Cảm ơn ông!

Theo Trình Tiêu/ Doanh nhân Sài Gòn Online

Bình Dương: Đưa vào hoạt động xe bus năng lượng sạch

Ngày 18-12, tỉnh Bình Dương đã chính thức đưa chín xe bus chạy năng lượng sạch, chất lượng Nhật Bản vào hoạt động. Các xe buýt chạy bằng khí nén thiên nhiên, rất thân thiện với môi trường và được áp dụng các kinh nghiệm, kiến thức, công nghệ Nhật Bản.

Một trong những chiếc xe bus năng lượng sạch tại Bình Dương. (Ảnh: Lê Thẩm)

Một trong những chiếc xe bus năng lượng sạch tại Bình Dương. (Ảnh: Lê Thẩm)

Cụ thể, những chiếc xe bus này sẽ luôn vận hành đúng giờ tại các trạm dừng đón, trả khách; thái độ phục vụ lịch sự; sử dụng hệ thống thẻ IC theo công nghệ Nhật Bản. Hành khách là học sinh, sinh viên, người già… sẽ được giảm 50% tiền vé.

Hệ thống này được vận hành bởi Công ty TNHH Xe buýt Becamex Tokyu (hợp tác giữa Tập đoàn Becamex IDC của Bình Dương và Tập đoàn Tokyu Nhật Bản). Năm 2015, công ty sẽ đưa thêm sáu chiếc nữa vào phục vụ hành khách tại Bình Dương, sau đó sẽ mở thêm các tuyến trong tỉnh.

Nhân dịp này, tỉnh Bình Dương cũng đưa tuyến đường Phạm Ngọc Thạch rộng tám làn xe, chiều dài toàn tuyến gần bảy km, với tổng giá trị đầu tư khoảng 2.000 tỷ đồng, nối giữa thành phố Thủ Dầu Một vào Trung tâm Hành chính của tỉnh vào hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông giữa hai khu đô thị.

Theo Lê Thẩm/ Nhân Dân

Với giải pháp vận hành đơn giản, doanh nghiệp ngành thủy sản có thể giảm đến 15% năng lượng

Trong ngành chế biến thủy hải sản, hệ thống lạnh cho sản xuất và tích trữ chiếm đến hơn 70% tổng năng lượng tiêu thụ. Tuy nhiên, nếu áp dụng triệt để những giải pháp tiết kiệm năng lượng đơn giản trong quá trình vận hành, doanh nghiệp có thể tiết kiệm từ 10-15% năng lượng tiêu thụ mà không cần tốn chi phí đầu tư lớn.
1
Ông Huỳnh Kim Tước (bên phải) tiếp đoàn Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam để bàn về việc triển khai dự án “Chuyển hóa carbon thấp trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng”
Theo Tổng cục năng lượng – Bộ Công Thương, tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu năng lượng tại Việt Nam đang ngày càng gia tăng, trong khi việc sử dụng năng lượng trong các ngành vẫn còn rất lãng phí. Năm 2011, để tạo ra 1000 USD GDP, Việt Nam phải tiêu tốn 576 kg dầu quy đổi, con số này cao gấp 1,4 lần so với Malaysia và gấp 2 lần so với mức bình quân chung của thế giới.
Cường độ năng lượng trong sản xuất công nghiệp ở nước ta cũng cao hơn các nước trên thế giới. Để sản xuất cùng 1 loại giá trị đầu ra, công nghiệp Việt Nam cần sử dụng năng lượng nhiều hơn 1,5 – 1,7 lần so với một số nước trong khu vực. Chính vì vậy, Việt Nam đã và đang triển khai nhiều dự án hỗ trợ nhằm giúp cho doanh nghiệp phát hiện ra tiềm năng tiết kiệm năng lượng từ việc khắc phục những lãng phí.
Dự án “Chuyển hóa carbon thấp trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng” do Chính phủ Đan Mạch tài trợ cho Việt Nam được ký kết từ cuối năm 2012 và được triển khai từ năm 2013 nhằm hỗ trợ phát triển năng lực và hỗ trợ nguồn tài chính đầu tư giải pháp tiết kiệm năng lượng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành gạch, gốm và chế biến thủy hải sản, trong đó đặc biệt chú trọng đến các doanh nghiệp ngành chế biến thủy hải sản. Ngành chế biến thủy sản là ngành đóng góp đáng kể vào GDP của cả nước với khối lượng xuất khẩu dự kiến đạt 2 triệu tấn vào năm 2020. Đây cũng là ngành có tiềm năng lớn về tiết kiệm năng lượng.
Ông Peter Petersen – chuyên gia cấp cao Đan Mạch cho biết trong ngành chế biến thủy hải sản, hệ thống cấp lạnh là hệ thống rất nhạy cảm với điều kiện hoạt động của nhà máy. Vì vậy việc vận hành hệ thống đúng cách cực kỳ quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng, chỉ với 1 độ C tăng hoặc giảm sẽ ảnh hưởng lớn đến mức năng lượng tiêu thụ của nhà máy. Cũng theo ông Peter, chỉ với những giải pháp cực kỳ đơn giản và dễ thực hiện, không tốn nhiều chi phí, doanh nghiệp ngành này có thể giảm đến 15% năng lượng tiêu thụ. Một số giải pháp đơn giản như: Tách khí (xả không khí trong dàn ngưng) giúp tiết kiệm 5-15% năng lượng; lọc tách dầu và nước trong môi chất làm lạnh giúp tiết kiệm 5-10% năng lượng; chỉnh nhiệt độ dàn ngưng sang điều kiện môi trường, vận hành các quạt theo phụ tải nhiệt sẽ tiết kiệm 5-10% năng lượng; thay dây đai truyền động cho các máy nén pittong giúp tiết kiệm 10% năng lượng; không sử dụng nước đá để làm lạnh; thiết kế tủ đông có nhiệt độ phù hợp cho từng sản phẩm cụ thể; che chắn tránh thoát nhiệt kho lạnh… Những giải pháp này chi phí đầu tư thấp, thời gian hoàn vốn chỉ trong vòng 3-6 tháng nhưng mang lại lợi ích cao cho doanh nghiệp.
Bên cạnh các giải pháp đơn giản, tiềm năng tiết kiệm năng lượng của các doanh nghiệp chế biến thủy hải sản còn nằm ở các hệ thống cần chi phí đầu tư lớn hơn với thời gian thu hồi vốn từ 1-5 năm, như thiết bị ngưng, thiết bị bay hơi, hệ thống điều khiển, máy làm mát, thiết bị thu hồi nhiệt, máy biến tần… Ông Huỳnh Kim Tước, Giám đốc Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP. HCM chia sẻ, sở dĩ cơ hội tiết kiệm năng lượng cao là vì doanh nghiệp chế biến thủy hải sản tại Việt Nam đa số sử dụng máy nén lạnh cũ trên 10 năm hoặc máy đã qua sử dụng nên có hiệu suất thấp, tiêu tốn nhiều năng lượng trong khi thiết bị này chiếm đến hơn 70% năng lượng tiêu thụ của cả đơn vị. Tuy nhiên, để thay 1 cái máy nén lạnh mới, doanh nghiệp phải đầu tư bình quân 700 triệu đồng, thời gian hoàn vốn từ 6-10 năm, mà 1 công ty thủy sản thường có từ 10-20 máy nén lạnh nên khó khăn về vốn là rào cản lớn nhất mà doanh nghiệp gặp phải khi muốn đầu tư thiết bị tiết kiệm năng lượng. Giải pháp đưa ra để giải quyết bài toán này theo ông Tước là các doanh nghiệp nên lựa chọn đơn vị tư vấn và đầu tư dự án theo mô hình ESCO.
“Chính vì vậy mà giải pháp doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn là áp dụng những giải pháp đơn giản, chi phí thấp và cải thiện chế độ vận hành, bảo dưỡng hợp lý để giảm chi phí năng lượng” – ông Tước cho biết.
Để giúp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành chế biến thủy hải sản thực hiện tiết kiệm năng lượng, từ đầu năm 2015, dự án “Chuyển hóa carbon thấp trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng” sẽ tiến hành tiếp nhận và hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp thuộc đối tượng này. Ngoài ra, dự án cũng sẽ tổ chức đào tạo cho doanh nghiệp các công tác bảo dưỡng, vận hành hệ thống sản xuất theo tiêu chí tiết kiệm năng lượng.
Theo ecc-hcm.gov.vn

Năm 2014, nhiều chính sách mới về Tài nguyên và Môi trường được ban hành và thực hiện

Năm 2014, nhiều chính sách mới thuộc lĩnh vực quản lý của ngành Tài nguyên và Môi trường đã được ban hành và triển khai thực hiện trên toàn quốc. Điển hình như Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước, Luật Khoáng sản, Luật Đất đai… thu hút được sự quan tâm của đông đảo nhân dân và doanh nghiệp.

KCN
 Ảnh minh họa

Đề cập về những kết quả ngành Tài nguyên và Môi trường đã đạt được trong năm 2014, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang khẳng định: “Nhìn chung, công tác của Bộ trong thời gian vừa qua được triển khai tích cực, nhiều việc lớn của Bộ đã được hoàn thành. Các đơn vị trực thuộc Bộ đã thực hiện tốt kế hoạch, nhiệm vụ được giao; đẩy nhanh tiến độ giải ngân; tập trung cao độ cho việc xây dựng Kế hoạch 5 năm 2016 – 2020, Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 – 2020 của đơn vị, của ngành. Thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ. Bộ đã tập trung xây dựng dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8; xây dựng các văn bản quy định chi tiết và tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện các văn bản Luật”.

Những kết quả cụ thể đó là: Bộ hoàn thành việc tham mưu trình Chính phủ ban hành 5 Nghị định; 13 Thông tư thuộc thẩm quyền để hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử xây dựng chính sách pháp luật đất đai đã ban hành số lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật; đảm bảo trình tự thủ tục, kịp thời, khoa học, tính thực tiễn cao. Đặc biệt, hiệu lực thi hành Luật Đất đai năm 2013 (1/7/2014) và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật sẽ cùng thời điểm. Qua đó đã loại bỏ được khoảng trống pháp luật so với trước đây, được cộng đồng ghi nhận đánh giá cao.Tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và công bố các thủ tục hành chính mới lĩnh vực đất đai tại Quyết định số 1839 ngày 27/8/2014. Theo đó, gồm 41 thủ tục đối với Văn phòng đăng ký đất đai một cấp, giảm 30 thủ tục so với trước đây; 62 thủ tục đối với địa phương chưa thành thành lập Văn phòng đăng ký đất đai một cấp, giảm 9 thủ tục so với trước đây. Việc công bố nhằm đảm bảo sự thống nhất, công khai, minh bạch của thủ tục hành chính; góp phần phát triển kinh tế – xã hội và phòng, chống tham nhũng, lãng phí tài nguyên đất đai.

Hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các địa phương xây dựng Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Đây là một Dự án Luật quan trọng nhằm thể chế hóa các chính sách lớn của Đảng, Nhà nước; là cơ sở để quản lý tài nguyên biển và hải đảo một cách tổng hợp, thống nhất; bảo vệ, khai thác bền vững và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế – xã hội trước mắt và lâu dài; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường biển và hải đảo; giải quyết cơ bản các vấn đề mâu thuẫn, chồng chéo trong quản lý, bảo vệ, khai thác tài nguyên biển và hải đảo giữa các ngành, các cấp… Ngày 23 tháng 6 năm 2014, Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã được Chính phủ trình Quốc hội để lấy ý kiến đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII.

Ban hành Nghị định số 51/2014 ngày 21/5/2014 của Chính phủ, quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển. Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý tổng hợp, thống nhất nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên biển, hải đảo, bảo đảm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, hải đảo; các mâu thuẫn, xung đột về lợi ích giữa các hoạt động kinh tế trên cùng một khu vực biển, nhiều chức năng của khu vực biển bị khai thác quá mức hoặc việc sử dụng các khu vực biển không phù hợp với vị trí địa lý, quy luật tự nhiên và chức năng sử dụng của khu vực biển dẫn đến các hệ sinh thái dần bị suy thoái, tình trạng ô nhiễm môi trường biển ngày càng gia tăng.

Về lĩnh vực môi trường: Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Luật số 55/2014/QH13) với đa số phiếu tán thành vào ngày 23/6/2014. Luật Bảo vệ Môi trường 2014 gồm có 20 chương, 170 điều trong đó làm rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường theo nguyên tắc Nhà nước quản lý thống nhất về bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức chính trị, xã hội, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng về bảo vệ môi trường; xác định rõ hơn nguồn lực tài chính cho bảo vệ môi trường và nhiệm vụ được chi từ kinh phí sự nghiệp môi trường; bổ sung thêm nội dung mới về biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; gắn kết bảo vệ tài nguyên và bảo vệ môi trường với biến đổi khí hậu; nhấn mạnh tăng trưởng xanh, khuyến khích phát triển công nghiệp và đô thị sinh thái; khuyến khích sản xuất và tiêu thụ thân thiện với môi trường.

Bên cạnh đó, Ban Thư ký Công ước Ramsar thế giới công nhận Vườn quốc gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar) thứ 2.203 của thế giới, thứ 6 của Việt Nam và là khu Ramsar biển đầu tiên của Việt Nam. Vườn quốc gia Côn Đảo hội tụ cả 4 hệ sinh thái rừng, biển rất đặc sắc và hiếm có trên thế giới và đã được Ngân hàng Thế giới đưa vào danh sách hệ thống các khu vực biển quan trọng cần bảo vệ trên toàn cầu và là khu vực trọng điểm nằm trong kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam.

Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 45 ngày 8/1/2014. Đây là lần đầu tiên, Quy hoạch được xây dựng và việc ban hành văn bản này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam, hướng đến mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, các loài và nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm; duy trì, phát triển dịch vụ hệ sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu; phục hồi diện tích hệ sinh thái tự nhiên có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia; mở rộng, thành lập thêm và vận hành có hiệu quả các hành lang đa dạng sinh học nhằm nâng cao đời sống của người dân vùng sâu, vùng xa, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Đặc biệt, ngành Tài nguyên và Môi trường đã triển khai thành công việc thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản quy định tại Nghị định số 203/2013 của Chính phủ ban hành ngày 28/11/2013 quy định phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Theo đó, tổng số Giấy phép khai thác khoáng sản Trung ương cấp phải thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là 495 Giấy phép; ước tính tổng số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của 495 Giấy phép khai thác khoáng sản khoảng 50 nghìn tỷ đồng. Trong đó thu trong năm 2014 gần 2.500 tỷ đồng. Ngoài việc tăng thu ngân sách nhà nước, việc thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản căn cứ theo yêu cầu trữ lượng, chất lượng khoáng sản nằm trong lòng đất đã nâng cao công tác về quản lý nhà nước về khoáng sản.

Về khoáng sản, đã phát hiện than quy mô lớn, chất lượng tốt ở khu vực ven biển huyện Tiền Hải, Thái Bình. Kết quả phân tích cho thấy than có chất lượng tốt, xác định được vị trí phân bố của 5 tập chứa than và các vỉa than trong tập, đạt mục tiêu giai đoạn đến 2015 của Đề án với tài nguyên than cấp 333 đạt 3 tỷ tấn trên diện tích 265 km2. Điều đó cho thấy tiềm năng than ở Bể Sông Hồng là rất lớn với công nghệ khí hóa than ngầm trong tương lai gần, việc khai thác than ở Bể Sông Hồng là khả thi. Sự kiện này có ý nghĩa rất lớn trong việc định hướng chuẩn hóa năng lượng của đất nước trong những năm tiếp theo.

Hoàn thành giai đoạn I Đề án Chính phủ “Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam cho 10 tỉnh miền núi phía Bắc. Theo đó, hoàn thành bộ bản đồ hiện trạng trượt lở đất đa tỷ lệ 1:50.000 của 10 tỉnh miền núi khu vực phía Bắc; khoanh định các vùng nguy hiểm, tiềm ẩn các nguy cơ trượt lở trong mùa mưa lũ; giúp các cơ quan Trung ương và địa phương xây dựng quy hoạch định hướng phát triển kinh tế, dân cư, giao thông, phòng chống thiên tai một cách hiệu quả và bền vững.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã chủ trì công bố Quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông lớn, quan trọng và đưa vào vận hành trong mùa lũ năm 2014 nhằm thống nhất về việc xả lũ, đảm bảo phát điện, nhất là an toàn cho dân cư vùng hạ du. Quy trình đã quy định cụ thể chế độ vận hành, cơ chế phối hợp giữa các chủ hồ; trách nhiệm của địa phương, các bộ ngành trong chỉ đạo, điều hành,kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình của các chủ hồ, các cơn quan có liên quan.

Hoàn thành báo cáo cập nhật 2 năm/lần lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu. Báo cáo được gửi đến Ban Thư ký Công ước khí hậu trước khi tổ chức Hội nghị lần thứ 20 các Bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP20) vào tháng 12 năm 2014 tại Lima, Pê-Ru. Việt Nam là một trong các nước đang phát triển trên thế giới sớm hoàn thành xây dựng báo cáo; được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Qua đó nhằm tiếp tục thực hiện hiệu quả nghĩa vụ và cam kết của Việt Nam – một bên nước tham gia Công ước khí hậu đối với việc triển khai các Chương trình biến đổi khí hậu ưu tiên; hướng đến xây dựng nền kinh tế cac-bon thấp theo hướng tăng trưởng xanh. Là tài liệu quan trọng giúp cơ quan Trung ương, địa phương xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Những kết quả nổi bật nêu trên của ngành Tài nguyên và Môi trường là tiền đề quan trọng để ngành bước vào thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được giao. Để tạo nên những đột phá trong năm 2015, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang yêu cầu ngay từ bây giờ, lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ và ngành tập trung chỉ đạo sâu sát hơn nữa đối với từng mảng công việc của đơn vị; hoàn thành các nhiệm vụ ngay từ tháng đầu năm bảo đảm chất lượng và hiệu quả cao.

Với những nhiệm vụ chung, Thủ trưởng các đơn vị tiếp tục trực tiếp chỉ đạo cải cách hành chính; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính, thực hiện nghiêm Quy chế làm việc của Bộ trong đơn vị; quán triệt cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị chấp hành nghiêm chế độ, thời gian làm việc, tham dự các cuộc họp đúng giờ; nâng cao tinh thần trách nhiệm của các đơn vị trong việc tham gia phối hợp giải quyết công việc và thực hiện Chương trình công tác.

Tăng tốc đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách; thực hiện tốt Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Đôn đốc các đơn vị khẩn trương hoàn thiện, trình Bộ trưởng ban hành 35 thông tư, thông tư liên tịch, bảo đảm chất lượng đúng tiến độ; hoàn thiện Kế hoạch 5 năm 2016-2020, Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 ngành tài nguyên và môi trường. Hoàn thiện Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3/2015. Lập kế hoạch giao ban công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường theo 3 miền trong năm 2015.

Tiếp tục đẩy nhanh việc hoàn thiện tổ chức bộ máy, nhân sự của các đơn vị trực thuộc Bộ; kiện toàn tổ chức, bộ máy của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Hoàn thiện Đề án xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, viên chức của Bộ; Đề án kiện toàn tổ chức và hoạt động của các Viện thuộc Bộ. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; hoàn thiện Chiến lược phát triển các trường trực thuộc Bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Tập trung xây dựng Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia và cấp Bộ giai đoạn 2016-2020; trình Bộ trưởng Quy chế quản lý các đề tài dự án khoa học và công nghệ (sửa đổi).

Khẩn trương hoàn thành việc đo đạc lập bản đồ địa giới hành chính gắn liền với việc xây dựng hồ sơ địa giới hành chính; công tác phân giới cắm mốc Campuchia; tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc giới Việt Nam- Lào; các nhiệm vụ liên quan đến vấn đề Biển Đông…

Theo: stnmt.binhthuan.gov.vn

Công bố kịch bản nồng độ khí nhà kính tại Việt Nam trong thế kỷ 21

Hiện nay, các nhà dự báo đã dự tính được sự biến đổi của nhiệt độ, mưa và các hiện tượng cực đoan ở bảy khu vực trên cả nước theo hai kịch bản về nồng độ khí nhà kính trung bình thấp (RCP4.5) và kịch bản nồng độ khí nhà kính trung bình cao (RCP8.5) cho các giai đoạn khác nhau trong thế kỷ 21.

Đây là một trong những thông báo tại Hội nghị tổng kết dự án “Ứng dụng mô hình hệ thống trái đất của Na Uy xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, nghiên cứu hệ thống gió mùa và các hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam” do Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu tổ chức ngày 16/12, tại Hà Nội.

Biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng nề. (Ảnh minh họa: TTXVN)

Biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng nề. (Ảnh minh họa: TTXVN)

Thông tin về nền nhiệt độ không khí, bà Nguyễn Thị Hiền Thuận, Phó Giám đốc dự án, cho biết theo kịch bản RCP4.5, nhiệt độ không khí ở Việt Nam sẽ tăng khoảng 1 độ C vào giai đoạn giữa thế kỷ 21 và tăng 1,4 độ C vào giai đoạn cuối thế kỷ.

Trong khi đó, theo kịch bản RCP8.5, nhiệt độ tăng tương ứng lần lượt là 1,4 độ C và 3 độ C. Nhiệt độ không khí tối cao trung bình và tối thấp trung bình có thể tăng từ 1,4 độ C đến 2,9 độ C ở cuối thế kỷ.

Về diễn biến mưa, tổng lượng mưa năm sẽ tăng từ 8% (RCP4.5) đến 9% (kịch bản RCP8.5) ở giai đoạn giữa thế kỷ và tăng từ 9% (kịch bản RCP4.5) đến 30% (kịch bản RCP8.5) ở giai đoạn cuối thế kỷ.

“Dự báo, lượng mưa ngày cực đại trên toàn quốc ở giai đoạn cuối thế kỷ có thể tăng đến trên 37% theo kịch bản RCP4.5; và tăng trên 45% theo kịch bản RCP8.5,” bà Thuận nói.

Bà Thuận cũng cho biết, gió trung bình mùa Thu ở giai đoạn giữa thế kỷ có xu thế giảm, mức độ giảm ở kịch bản RCP8.5 nhiều hơn so với kịch bản RCP4.5. Tốc độ gió trung bình ở giai đoạn cuối thế kỷ có xu thế suy yếu trong tháng Chín và tăng ở các tháng Sáu, Bảy, Tám.

Thông tin về dự án, bà Huỳnh Thị Lan Hương, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu cho biết, dự án “Ứng dụng mô hình hệ thống trái đất của Na Uy xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, nghiên cứu hệ thống gió mùa và các hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam” được triển khai từ năm 2012, với sự tài trợ của Chính phủ Hoàng gia Na Uy .

Đến nay, dự án đã kết thúc với kết quả rất khả quan. Cụ thể, dự án đã tính toán, dự tính khí hậu tương lai cho bảy vùng khí hậu Việt Nam; đánh giá được sự thay đổi của giá trị trung bình năm, thay đổi trung bình mùa theo gió mùa; đánh giá được sự biến đổi các cực đoan của gió mùa…

Ngoài ra, dự án cũng đưa ra nhiều lựa chọn và phương án tính toán khác nhau, giúp cho việc cập nhật hoàn thiện kịch bản biến đổi khí hậu cũng như đánh giá tác động và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam vào năm 2015.

Theo Hùng Võ/ VietnamPlus