Bài viết

Bỉ sẽ xây dựng đảo năng lượng đa chức năng ở Biển Bắc

Bộ trưởng Năng lượng Bỉ Tinne Van de Straeten ngày 26/4 cho biết một trong những trụ cột chính của chính sách năng lượng của nước này là sản xuất điện gió ngoài khơi.

Trong chính sách năng lượng của kế hoạch phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, Bỉ sẽ tập trung sản xuất năng lượng tại Biển Bắc. Theo đó, dự kiến Brussels sẽ xây dựng một hòn đảo năng lượng đa chức năng ở vùng biển này.

Trả lời phỏng vấn Đài phát thanh và truyền hình Cộng đồng nói tiếng Pháp của Bỉ (RTBF), Bộ trưởng Năng lượng Bỉ Tinne Van de Straeten ngày 26/4 cho biết một trong những trụ cột chính của chính sách năng lượng của nước này là sản xuất điện gió ngoài khơi.

Bỉ dự kiến xây dựng một đảo năng lượng đa chức năng ở Biển Bắc – nơi sẽ kết nối các tuabin gió, đồng thời cho phép lưu trữ và sản xuất hydro xanh. Như vậy, Bỉ sẽ là quốc gia đầu tiên có đảo năng lượng như vậy ở Biển Bắc, trước cả Đan Mạch.

Về đổi mới năng lượng, châu Âu dự định tập trung vào hydro xanh và coi đó như một nhân tố chính trong quá trình chuyển đổi sang trung hòa carbon vào năm 2050.

Một trong những điểm chính của chính sách năng lượng của chính phủ Bỉ là duy trì loại bỏ điện hạt nhân vào năm 2025. Điều này đồng nghĩa với hàng nghìn việc làm bị đe dọa.

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Tinne Van der Straeten, những việc làm này có thể sử dụng trong các lĩnh vực khác ngoài năng lượng, đặc biệt là y học hạt nhân.

Hiện Bỉ có hai cơ quan nghiên cứu sáng tạo ở Flanders và Wallonia hoạt động với đồng vị phóng xạ. Các dự án sử dụng đồng vị phóng xạ bằng cách tạo ra ít chất thải hơn và với tham vọng chữa khỏi bệnh ung thư.

Để đảm bảo cung cấp năng lượng ở Bỉ mà không có nhà máy điện hạt nhân, Brussels đang xây dựng cơ chế trả công năng lực, nhằm hỗ trợ các “nhà cung cấp năng lực” bằng năng lượng.

Đây là nền tảng để bắt đầu quá trình chuyển đổi năng lượng, vì tương lai hậu năng lượng hạt nhân ban đầu sẽ là các nhà máy điện chạy bằng khí đốt. Ngoài việc tập trung vào sản xuất năng lượng, Bỉ cũng chú trọng lưu trữ năng lượng.

Kể từ năm 2003, các chính phủ kế tiếp nhau tại Bỉ đã cố gắng thực hiện chính sách chuyển đổi năng lượng nhưng không đạt được nhiều thành công./.

Hương Giang (TTXVN/Vietnam+)

https://www.vietnamplus.vn/bi-se-xay-dung-dao-nang-luong-da-chuc-nang-o-bien-bac/709054.vnp

Điện gió nổi ngoài khơi có thể là mặt trận lớn nhất của năng lượng gió ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Hãng phân tích Wood Mackenzie cho biết, điện gió nổi ngoài khơi có thể là mặt trận tiếp theo trong phát triển lĩnh vực điện gió ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chi phí vốn (CAPEX) sẽ giảm xuống trung bình 3 triệu USD/MW trong giai đoạn 2025-2030.

Theo Wood Mackenzie, một thị trường quan trọng cho công nghệ nổi ngoài khơi đang hình thành ở châu Á. Các nhà phát triển tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đã công bố kế hoạch phát triển các dự án thử nghiệm trọng điểm, mặc dù quy mô triển khai vẫn còn hạn chế so với công nghệ xây dựng nền đáy cố định cho trụ gió. Điện gió nổi ngoài khơi được dự báo chỉ chiếm 6% trong tổng công suất 26 GW công suất gió ngoài khơi mới dự kiến được xây dựng trong thập kỷ này tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ngoại trừ Trung Quốc.


Dự án giàn turbin đôi nổi 200MW ngoài khơi Hàn Quốc của Tập đoàn Shell.

Chuyên gia phân tích Robert Liew của Wood Mackenzie cho biết, việc lắp đặt thêm 1,56 GW công suất điện gió nổi ngoài khơi Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ cần các khoản đầu tư trị giá ít nhất 8 tỷ USD. Nếu xem xét thêm dự án truyền dẫn trị giá 9 tỷ USD trong giai đoạn lập kế hoạch ban đầu, nhu cầu đầu tư có thể lên tới 58 tỷ USD. Duy trì nguồn cung cấp điện là một thách thức quan trọng đối với các thị trường này khi các nhà máy nhiệt điện lạc hậu sắp hết vòng đời dự án và cơ hội phát triển điện than, điện hạt nhân mới bị hạn chế đáng kể. Ba thị trường Đông Bắc Á phải đối mặt với việc ngừng hoạt động công suất nhiệt điện than và điện hạt nhân lên tới 89 GW trong giai đoạn 2020 – 2030.

Chuyên gia Liew cho biết, chính phủ các nước này đang tích cực tìm kiếm nguồn cung điện từ NLTT để lấp đầy khoảng trống cung cấp, nhưng do hạn chế về đất đai nên các lựa chọn mở rộng NLTT bị hạn chế. Điện gió nổi ngoài khơi đang được chú ý nhiều hơn nhưng chi phí cao vẫn là rào cản lớn đối với việc áp dụng rộng rãi công nghệ này. Để đảm bảo tính bền vững lâu dài của nguồn điện này, chi phí lắp đặt phải giảm đáng kể để ít nhất có thể cạnh tranh được với nguồn cung điện khí.


Thiết bị lắp đặt nổi Lidar cho dự án điện gió Ulsan 1,4GW ngoài khơi Hàn Quốc.

Với những thành quả hạn chế, quy mô điện gió nổi ngoài khơi mới có 21 MW công suất thử nghiệm, cho thấy tính không chắc chắn cao về khả năng giảm chi phí dự án tại các thị trường châu Á – Thái Bình Dương. Hiện tại, chính phủ Nhật Bản ước tính rằng, chi phí đầu tư hiện tại đối với điện gió nổi ngoài khơi có thể hạ xuống 4 triệu USD/MW so với chi phí đầu tư điện gió trên bờ là 2-3 triệu USD/MW. Trong khi chi phí đầu tư điện gió trên bờ được dự báo sẽ giảm còn 1,5 triệu USD/MW đến năm 2030.

Wood Mackenzie dự báo, chi phí đầu tư trung bình của các nhà máy điện gió nổi ngoài khơi tại ba thị trường tiên phong nêu trên sẽ giảm khoảng 40% xuống còn 2,6-4 triệu USD/MW vào giai đoạn 2025-2030.

Bất chấp thách thức về chi phí, Chính phủ Nhật Bản và Hàn Quốc đã ban hành các chính sách hỗ trợ lĩnh vực này. Tại Nhật Bản, biểu thuế nhập khẩu áp dụng cho các dự án nổi so với các dự án ngoài khơi có chân đế đang chuyển sang mức giá thông qua đấu giá. Một cuộc đấu giá điện gió nổi quy mô 22 MW ở quần đảo Goto cũng đang thử nghiệm xem liệu giá trúng thầu có thể thấp hơn biểu giá được cấp vào hiện tại hay không. Tại Hàn Quốc, các dự án nổi ngoài khơi có thể được cấp chứng chỉ NLTT với nhiều ưu đãi hơn tùy thuộc vào khoảng cách giữa các cơ sở kết nối.

Chuyên gia Liew cho rằng, với đủ sự hỗ trợ của chính phủ, các nhà phát triển sẽ sẵn sàng đánh cược lớn hơn vào năng lượng gió nổi. Việc xây dựng một hệ thống các dự án nổi chắc chắn sẽ giúp lĩnh vực này có tầm nhìn xa hơn, do đó sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn nữa. Những sự hỗ trợ của chính phủ là tầm nhìn dài hạn nhằm thiết lập một chuỗi cung ứng gió nổi ngoài khơi trong nước sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế địa phương. Điện gió nổi ngoài khơi đòi hỏi nhiều tàu lắp đặt tuabin hơn so với các dự án gió ngoài khơi có chân đế. Điều này sẽ thu hút sự quan tâm của các quốc gia có thế mạnh về ngành hàng hải hay giao thông thủy nội địa. Chính phủ Nhật Bản và Hàn Quốc mong muốn thiết lập một trung tâm chuỗi cung cứng nổi ở nước ngoài cho khu vực và xuất khẩu tiềm năng trong tương lai sang các thị trường khác. Điều này cũng có thể góp phần đáng kể vào việc giảm chi phí.

Điện gió nổi ngoài khơi có lẽ sẽ là mặt trận lớn nhất cho năng lượng gió ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong dài hạn. Lĩnh vực này có tương lai triển vọng vì hầu hết các thị trường ở châu Á – Thái Bình Dương đều có bờ biển dài và nguồn năng lượng gió ngoài khơi gần các thành phố ven biển có thể được khai thác, thậm chí ở cả những khu vực có tốc độ gió thấp. Mặc dù quy mô vẫn còn hạn chế, năng lượng gió nổi ngoài khơi có tiềm năng cung cấp điện gần như vô tận.

Viễn Đông
https://nangluongquocte.petrotimes.vn/dien-gio-noi-ngoai-khoi-co-the-la-mat-tran-lon-nhat-cua-nang-luong-gio-o-khu-vuc-chau-a-thai-binh-duong-601503.html

Hàn Quốc xây dựng trang trại điện gió ngoài khơi lớn nhất thế giới

Các nhà chức trách Hàn Quốc đã ký hợp đồng trị giá 36 tỷ euro nhằm xây dựng trang trại điện gió ngoài khơi lớn nhất thế giới. 

Nghèo nàn về các nguồn năng lượng truyền thống, Hàn Quốc tích cực hướng tới mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050. Hiện nay, Hàn Quốc đang sử dụng nhiệt điện từ than nhập khẩu, chiếm tỷ trọng 40%.

Ngoài mục tiêu trung hòa carbon, Tổng thống Moon Jae-in có dự định loại bỏ dần điện hạt nhân, khai thác chủ yếu năng lượng gió, năng lượng mặt trời và thủy điện.

Ông Moon Jae-in đã giám sát việc ký kết hợp đồng trị giá 48 nghìn tỷ won (36 tỷ euro) để xây dựng một trang trại điện gió khổng lồ ngoài khơi bờ biển Sinan phía Tây Nam Hàn Quốc. Theo ông Moon, trang trại điện gió sẽ có công suất tối đa là 8,2GW, với kích thước rộng gấp 7 lần trang trại điện gió ngoài khơi lớn nhất hiện nay.

Tổng thống Hàn Quốc cũng nhấn mạnh vị trí địa lý độc đáo của bán đảo Triều Tiên. Ông khẳng định: “Hàn Quốc có tiềm năng vô tận về năng lượng gió ngoài khơi và công nghệ tốt nhất thế giới trong lĩnh vực này”.

Có 33 tổ chức khác nhau tham gia vào thỏa thuận này, bao gồm chính quyền địa phương, Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc Kepco, các công ty tư nhân lớn như Công ty xây dựng và công nghiệp nặng Doosan hay công ty SK E&S. Theo Ông Moon Jae-in, dự án cần hơn 5 năm chuẩn bị trước khi bắt đầu xây dựng, tuy nhiên chính phủ cam kết sẽ đẩy nhanh tiến độ.

Năm ngoái, Seoul đặt mục tiêu lọt vào top 5 quốc gia sản xuất năng lượng gió hàng đầu thế giới vào năm 2030. Hàn Quốc có 24 nhà máy điện hạt nhân với mật độ cao nhất thế giới. Quốc gia này đặt mục tiêu giảm còn 17 nhà máy vào năm 2034, cũng như một nửa sản lượng điện hạt nhân.

Nh.Thạch/AFP
https://nangluongquocte.petrotimes.vn/han-quoc-xay-dung-trang-trai-dien-gio-ngoai-khoi-lon-nhat-the-gioi-600050.html

Việt Nam có nên gia hạn biểu giá điện gió?

Hiệp hội Điện gió toàn cầu vừa gửi đề xuất tới Chính phủ – Bộ Công Thương Việt Nam đề nghị gia hạn biểu giá điện gió.

Liên minh của ngành công nghiệp điện gió thế giới đứng đầu là Hiệp hội Điện gió toàn cầu (GWEC) đã chính thức đề nghị Chính phủ Việt Nam khẩn trương gia hạn Biểu giá FiT áp dụng cho điện gió.


Điện gió ngoài khơi là tiềm năng lớn phát triển nền kinh tế xanh của Việt Nam.

Theo đó, GWEC phân tích ngành điện gió của Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng giảm đà đầu tư trong năm 2020 do sự không chắc chắn xung quanh khuôn khổ đầu tư, trong đó sự chậm trễ gia hạn biểu giá FiT sẽ cản trở sự phát triển của chuỗi cung ứng và gây trở ngại cho việc giảm chi phí tại thị trường điện gió mới hình thành này. Và kết quả là sẽ đẩy lùi mục tiêu của Việt Nam về một tương lai có được nguồn điện sạch, đáng tin cậy và giá cả phải chăng.

Việt Nam là thị trường điện gió phát triển nhanh nhất trong khu vực, với công suất khoảng 500 MW trên bờ và ngoài khơi đang được lắp đặt và ít nhất 4 GW dự kiến sẽ được đưa vào vận hành vào năm 2025. Tuy nhiên, sự quan tâm của các nhà đầu tư đến phát triển dự án điện gió ở Việt Nam đã chậm lại đáng kể trong năm 2020, vì các dự án điện gió trên bờ thường yêu cầu 2 năm để phát triển trong khi đó biểu giá điện FiT hiện tại chỉ áp dụng cho các dự án hoàn thành trước tháng 11/2021.

Do chưa có sự rõ ràng về kế hoạch giá FiT từ năm 2022 trở đi nên các nhà đầu tư phải đối mặt với quá nhiều bất trắc khi cam kết đầu tư cho các dự án điện gió mới, điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới lưới điện trong tương lai và dẫn tới cắt giảm việc làm.

Ông Ben Backwell, Giám đốc điều hành của GWEC nhận định: “Việt Nam đã được công nhận rộng rãi là quốc gia dẫn đầu khu vực về năng lượng sạch ở Đông Nam Á và thu hút cam kết đầu tư từ một số doanh nghiệp đẳng cấp thế giới trong lĩnh vực này. Chính phủ Việt Nam cần tránh làm chậm lại các khoản đầu tư thực sự cần thiết cho ngành này bằng cách gia hạn thời gian áp dụng biểu giá FiT, từ đó đảm bảo các khoản đầu tư dài hạn được thực hiện, tạo ra hàng chục nghìn việc làm có tay nghề cao và cung cấp năng lượng sạch, cạnh tranh cho nền kinh tế Việt Nam”.

Văn phòng Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương đã công nhận tiềm năng to lớn của năng lượng gió trong việc sản xuất điện sạch và tăng trưởng xanh. Vào tháng 6 năm nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt bổ sung thêm gần 7 GW từ các dự án điện gió mới vào quy hoạch tổng thể ngành điện của Việt Nam điều chỉnh (PDP 7 Điều chỉnh). Tuy nhiên, thực tế là phần lớn trong số gần 7 GW này có thể không đạt được do không chắc chắn về việc gia hạn biểu giá FiT.

Ông Mark Hutchinson, Chủ tịch Nhóm công tác khu vực Đông Nam Á của GWEC cho rằng: “Việt Nam đang trên đà đạt được lợi thế về quy mô và giảm chi phí trong ngành điện gió và đà này cần được duy trì nếu muốn tránh chu kỳ phát triển bùng nổ và suy thoái. Do quy định về khuôn khổ thời gian thực hiện dự án nên chậm trễ trong gia hạn biểu giá FIT dẫn tới nguy cơ xảy ra giai đoạn “suy thoái” của ngành, khi đó rất ít dự án được kết nối với lưới điện trong giai đoạn 2022-2023. Về lâu dài, điều này sẽ gây ảnh hưởng xấu tới nỗ lực giảm chi phí nhờ phát triển chuỗi cung ứng nhất quán, quy mô lớn và kết quả là Việt Nam sẽ có ít năng lượng tái tạo hơn với giá thành cao hơn”.


Giá điện có ảnh hưởng đến toàn dân nên cần xem xét cẩn trọng đến mọi yếu tố.

Thực tế, có ít nhất 1,65 GW từ các dự án điện gió được dự báo sẽ được lắp đặt trước khi giá FiT hiện tại hết hạn vào tháng 11/2021. Năng lượng gió là nguồn năng lượng sạch, sẵn có, đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường an ninh năng lượng của Việt Nam và đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng. Hơn nữa, lĩnh vực năng lượng tái tạo đang phát triển này có thể tạo ra hàng tỷ đô la vốn đầu tư và hàng trăm nghìn việc làm trong dài hạn.

Liên minh Công nghiệp điện gió thế giới cho rằng Chính phủ Việt Nam đang xem xét việc gia hạn giá FiT hiện hành và đưa ra một biểu giá FiT mới phù hợp để giải quyết tình trạng khó khăn, sự quan tâm của các nhà đầu tư bị trì hoãn trong năm 2020 cộng thêm với sự gián đoạn do đại dịch Covid-19.

Do tắc nghẽn trong chuỗi cung ứng điện gió toàn cầu và tỷ lệ CAPEX (chi phí vốn) kém thuận lợi tại các khu vực dành cho các dự án điện gió mới, đặc biệt là xung quanh Đồng bằng sông Cửu Long. Do đó bài toán về đầu tư cho các dự án điện gió ở Việt Nam sẽ chịu thách thức đáng kể nếu không có một kế hoạch về biểu giá FiT minh bạch và thỏa đáng được công bố trong thời gian sớm nhất.

Cho đến nay, thị trường điện gió ở Việt Nam đã được hưởng lợi từ dòng vốn trong nước và nước ngoài ngày càng lớn. 4 GW dự kiến được lắp đặt vào năm 2025 có thể mang lại tới 65.000 việc làm và khoảng 4 tỷ USD vốn đầu tư. Để hiện thực hóa tiềm năng này, Chính phủ – Bộ Công Thương cần hành động ngay để gia hạn thời gian áp dụng giá FiT cho điện gió, tránh tình trạng chậm trễ kéo dài trong đầu tư và lắp đặt năng lượng sạch trong những năm tới. Nhưng ngược lại cũng cần phải tính toán lộ trình giá điện thương phẩm tương ứng trong vòng 5 năm tới để tránh những ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế vĩ mô cũng như sinh hoạt của người dân.

Ngành công nghiệp điện gió dự kiến sẽ mang lại 65.000 việc làm và khoảng 4 tỷ đô la Mỹ đầu tư vào Việt Nam từ nay tới năm 2025, nhờ đó giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu và cải thiện nền kinh tế năng lượng.

Tùng Dương
https://petrotimes.vn/viet-nam-co-nen-gia-han-bieu-gia-dien-gio-579075.html

Điện gió sẽ dẫn đầu ngành năng lượng toàn cầu

Dự kiến năm 2020 công nghiệp điện gió ngoài khơi thế giới sẽ đạt mức tăng công suất hơn 6 GW, bất chấp tác động của cuộc khủng hoảng Covid-19. Công suất điện gió ngoài khơi đến năm 2030 sẽ vượt 234 GW, dẫn đầu là các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Ngày 5/8, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) công bố báo cáo về điện gió ngoài khơi toàn cầu cho thấy công suất điện gió ngoài khơi toàn cầu sẽ tăng vọt từ 29.1 GW vào cuối năm 2019 lên đến mức hơn 234 GW vào năm 2030, nhờ sức tăng trưởng theo cấp số nhân ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và đà phát triển mạnh vẫn được duy trì ở châu Âu.

Hôm nay GWEC phát hành số thứ hai bản Báo cáo Điện gió ngoài khơi toàn cầu. Tài liệu cung cấp bức tranh toàn diện về ngành điện gió ngoài khơi trên toàn thế giới, với dữ liệu và phân tích mới nhất về tăng trưởng thị trường, cùng dự báo ngành đến năm 2030 và những đánh giá dựa trên dữ liệu về các thị trường mới nổi. Báo cáo cũng bao gồm các bài học kinh nghiệm về các chương trình hỗ trợ, phát triển ngành và tạo việc làm, kết nối lưới điện, giảm chi phí và chuỗi cung ứng, cũng như đảm bảo sức khỏe và an toàn để thúc đẩy tăng trưởng thị trường điện gió ngoài khơi toàn cầu.

Báo cáo chỉ ra năm 2019 là năm phát triển mạnh mẽ nhất ngành điện gió ngoài khơi từng ghi nhận, với mức tăng 6,1 GW công suất mới trên toàn thế giới, nâng tổng lắp đặt tích lũy toàn cầu lên 29,1 GW. Trung Quốc hai năm liên tiếp đứng ở vị trí số một về công suất lắp đặt mới, đạt công suất lắp đặt kỷ lục 2,4 GW, theo sau là Vương quốc Anh ở mức 1,8 GW và Đức ở mức 1,1 GW. Trong khi châu Âu tiếp tục là khu vực đi đầu về điện gió ngoài khơi, các quốc gia trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, như Đài Loan, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc, cùng với thị trường Mỹ cũng đang nhanh chóng tăng tốc và sẽ là khu vực tăng trưởng mạnh mẽ trong thập kỷ tới.

Việt Nam là một trong những thị trường tiềm năng mới của công nghiệp điện gió ngoài khơi.

GWEC Market Intelligence dự báo đến năm 2030, hơn 205 GW công suất điện gió ngoài khơi mới sẽ được bổ sung trên toàn cầu, trong đó sẽ có ít nhất 6,2 GW điện gió nổi ngoài khơi. Con số này cao hơn 15 GW so với mức triển vọng mà GWEC Market Intelligence dự báo thời kỳ tiền Covid, chứng minh khả năng phục hồi có thể giúp ngành này đóng vai trò làm động lực chính cho cả công cuộc phục hồi xanh và quá trình chuyển đổi năng lượng.

Ben Backwell, Giám đốc điều hành của GWEC đánh giá: “Điện gió ngoài khơi đang thực sự mở rộng trên toàn cầu, đó là nhờ chính phủ các nước trên thế giới nhận ra vai trò của công nghệ trong việc khởi động phục hồi kinh tế hậu Covid thông qua đầu tư quy mô lớn, tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế cho các cộng đồng ven biển. Trong thập kỷ tới, chúng ta sẽ thấy các thị trường điện gió ngoài khơi mới nổi như Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam được triển khai một cách toàn diện, đồng thời sẽ chứng kiến các turbine ngoài khơi đầu tiên được lắp đặt tại một số quốc gia khác ở châu Á, châu Mỹ Latinh và châu Phi.

Báo cáo cho thấy khu vực điện gió ngoài khơi sẽ tạo ra 900.000 việc làm trong thập kỷ tới – và con số này chắc chắn sẽ còn tăng lên nếu các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chiến lược phục hồi giúp đẩy nhanh hơn nữa tốc độ tăng trưởng của ngành. Hơn nữa, 1 GW năng lượng gió ngoài khơi đồng nghĩa chúng ta tránh được 3,5 triệu tấn CO2 – cho thấy đây là công nghệ quy mô lớn có hiệu quả nhất hiện có giúp tránh phát thải khí carbon và thay thế nhiên liệu hóa thạch tại nhiều nơi trên thế giới”.

Thị trường điện gió ngoài khơi toàn cầu mỗi năm tăng trưởng trung bình 24% kể từ năm 2013. Châu Âu vẫn là thị trường lớn nhất cho điện gió ngoài khơi tính đến cuối năm 2019, chiếm 75% tổng công suất lắp đặt toàn cầu. Châu lục này sẽ tiếp tục dẫn đầu về điện gió ngoài khơi, với mục tiêu đầy tham vọng 450 GW vào năm 2050, đến từ các dự án lắp đặt mới tại Anh, Hà Lan, Pháp, Đức, Đan Mạch và Ba Lan, với một số thị trường EU khác cũng đạt sản lượng hai chữ số.

Bắc Mỹ hiện chỉ có 30 MW công suất điện gió ngoài khơi đang hoạt động vào cuối năm 2019, nhưng khu vực này sẽ tăng tốc triển khai trong những năm tới, với 23 GW dự báo sẽ được lắp đặt vào năm 2030. Phần lớn của mức tăng trưởng này sẽ đến từ Hoa Kỳ nơi ngành công nghiệp này vừa chớm nở, và chúng ta có thể hy vọng được chứng kiến các dự án quy mô lớn sẽ hoà lưới vào năm 2024 tại quốc gia này.

Báo cáo nhấn mạnh ngành công nghiệp này phát triển sôi động ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhờ các quốc gia nâng tham vọng, dẫn đầu là Trung Quốc, với 52 GW công suất điện gió ngoài khơi mới dự kiến ​​sẽ được lắp đặt vào năm 2030. Đài Loan sẽ trở thành thị trường điện gió ngoài khơi lớn thứ hai tại châu Á sau Trung Quốc đại lục, với mục tiêu 5,5 GW vào năm 2025 và thêm 10 GW vào năm 2035. Các thị trường khác trong khu vực cũng bắt đầu mở rộng quy mô, với Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc dự kiến ​​sẽ lắp đặt lần lượt là 5,2 GW, 7,2 GW và 12 GW công suất điện gió ngoài khơi.

Thành Công
https://petrotimes.vn/dien-gio-se-dan-dau-nganh-nang-luong-toan-cau-575523.html

Bùng nổ đầu tư năng lượng tái tạo toàn cầu

Theo báo cáo của Bloomberg NEF, trong nửa đầu năm 2020, tổng đầu tư toàn cầu cho phát triển năng lượng tái tạo (trừ thủy điện) đạt 132,4 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, đầu tư vào lĩnh vực điện gió ngoài khơi tăng kỷ lục 319% lên 35 tỷ USD. Ngược lại, đầu tư vào lĩnh vực điện gió trên đất liền giảm 21% xuống còn 37,5 tỷ USD; đầu tư vào lĩnh vực điện mặt trời giảm 12%, xuống còn 54,7 tỷ USD. Một số lĩnh vực khác như: đầu tư cho năng lượng sinh khối và năng lượng rác giảm 34% xuống còn 3,7 tỷ USD; đầu tư vào năng lượng địa nhiệt tăng 594% lên 676 triệu USD.

Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư lớn vào năng lượng tái tạo, Trung Quốc chiếm vị trí số 1 với 41,6 tỷ USD, tăng 42% so với cùng kỳ năm 2019, chủ yếu vào lĩnh vực điện gió ngoài khơi. Báo cáo cũng cho biết, đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến hoạt động đầu tư vào năng lượng tái tạo trong nửa đầu năm nay. Nhiều dự án bị hoãn, hủy huy động tài chính và chương trình đấu thầu. Tuy nhiên, lĩnh vực điện gió ngoài khơi chứng kiến hoạt động đầu tư bùng nổ, chủ yếu do triển vọng phát triển các nhà máy điện gió ngoài khơi quy mô lớn và những thành tựu công nghệ phát triển tuabin gió thời gian gần đây.

Chính phủ Hàn Quốc công bố kế hoạch đầu tư 94,6 tỷ USD cho các dự án “xanh” giúp nền kinh tế phục hồi sau đại dịch Covid-19 và tạo thêm 1,9 triệu việc làm mới cho nền kinh tế đến năm 2025. Mục tiêu của kế hoạch là đưa nền kinh tế nước này giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và thúc đẩy các ngành công nghiệp thân thiện với môi trường trên nền tảng công nghệ kỹ thuật số, bao gồm: sản xuất ô tô điện và ô tô hydro, hệ thống lưới điện thông minh. Hàn Quốc đặt mục tiêu đạt 1,13 triệu xe điện và 200.000 xe hydro vào năm 2025 và mở rộng hệ thống trạm sạc điện và hydro trên toàn quốc.

Chính phủ Kuwait thông báo hủy kế hoạch xây dựng nhà máy điện mặt trời Al-Dabdaba – dự án sẽ cung cấp 15% nhu cầu năng lượng điện của ngành công nghiệp dầu mỏ Kuwait. Nguyên nhân hủy bỏ kế hoạch là do sự lây lan đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến thị trường tài chính và dầu mỏ toàn cầu nói chung và nền kinh tế Kuwait nói riêng. Theo kế hoạch, dự án được Công ty Dầu khí Quốc gia Kuwait (KNPC) triển khai và sẽ bắt đầu hoạt động vào tháng 2/2021. Chính phủ nước này cho biết, quyết định trên sẽ hỗ trợ KNPC tập trung vào các hoạt động ưu tiên và duy trì vị thế trên thị trường dầu mỏ toàn cầu. Kuwait có kế hoạch tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu các nguồn năng lượng lên 15% vào năm 2030.

Ứng cử viên Tổng thống Mỹ của Đảng Dân chủ John Biden tuyên bố sẽ chuyển đổi ngành năng lượng Mỹ sang năng lượng tái tạo vào năm 2035 nếu trúng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11 sắp tới. Theo ông Biden, Mỹ sẽ thu hút được khoảng 2.000 tỷ USD cho quá trình chuyển đổi sang các nguồn năng lượng thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, ông Biden cũng ủng hộ kế hoạch của lãnh đạo Đảng Dân chủ tại Thượng viện Chuck Schumer về khuyến khích người dân Mỹ chuyển đổi xe ô tô chạy xăng, dầu sang động cơ hybrid, chạy điện hoặc nhiên liệu hydro. Hiện tại, chính quyền Mỹ của Tổng thống Trump cam kết mở rộng sản xuất nhiên liệu hóa thạch.

China Daily cho biết, Trung Quốc sẽ đưa vào vận hành từ 6-8 lò phản ứng hạt nhân mỗi năm trong giai đoạn 2020-2022 và sẽ tăng công suất điện hạt nhân lên 70 GW. Theo Ủy ban Năng lượng Trung Quốc, tính đến tháng 5/2020, tổng công suất điện hạt nhân của nước này hiện đạt 48,8 GW, chiếm 2,5% tổng công suất phát điện. Công suất điện hạt nhân Trung Quốc được dự báo tăng lên 52 GW (51 tổ máy phát điện) vào cuối năm 2020. Theo Trung tâm phát triển năng lượng hạt nhân Trung Quốc, tổng công suất phát điện hạt nhân nước này sẽ tăng lên 130 GW vào năm 2030, 170 GW vào năm 2035 và 340 GW vào năm 2050. Phát triển năng lượng hạt nhân tại Trung Quốc đã bị đóng băng, nhất là triển khai các dự án lớn do lệnh cấm 4 năm xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới sau thảm họa hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) năm 2011.

Viễn Đông
https://petrotimes.vn/bung-no-dau-tu-nang-luong-tai-tao-toan-cau-574305.html