Vì sao doanh nghiệp công nghiệp nên áp dụng SXSH?

Sản xuất sạch hơn (SXSH) mang lại những lợi ích gì và vì sao doanh nghiệp nên tham gia tham gia SXSH? Đây  hẳn là câu hỏi đã được không ít doanh nghiệp đặt ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình.

Những lợi ích khi doanh nghiệp SXSH

Trong sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, việc áp dụng SXSH được xem là phương cách tốt nhất để kết hợp lợi ích kinh tế và môi trường. Mặt khác, khi tham gia thực hiện SXSH, doanh nghiệp công nghiệp sẽ nhận được sự khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ của Nhà nước về tư vấn kỹ thuật, về nguồn tài chính thực hiện SXSH.

Cụ thể, nếu bỏ qua vấn đề ô nhiễm, doanh nghiệp sẽ gặp phải:

  • Rủi ro bị phạt
  • Rủi ro phải ngừng sản xuất hoặc bị di dời đi nơi khác
  • Giảm khả năng cạnh tranh và chịu nhiều áp lực từ cộng đồng

Nếu xử lý ô nhiễm, doanh nghiệp sẽ:

  • Tốn chi phí lắp đặt và vận hàng hệ thống xử lý
  • Không thu được lợi nhuận từ việc xử lý ô nhiễm ngoài việc tuân thủ pháp luật
  • Kinh phí để xử lý ô nhiễm được ví bằng hình ảnh tảng băng, ta chỉ nhìn thấy phần nổi trên mặt nước còn các chi phí khác tiềm ẩn là rất lớn

Nếu thực hiện SXSH, doanh nghiệp sẽ:

  • Giảm thiểu ô nhiễm
  • Giảm tổn thất năng lượng, nguyên liệu đầu vào, nước
  • Tăng lợi nhuận, hạ giá thành sản phẩm
  • Giảm chi phí lắp đặt hoặc giảm quy mô của hệ thống xử lý ô nhiễm
  • Tăng khả năng cạnh tranh
  • Tăng khả năng tuân thủ pháp luật tạo hình ảnh đẹp trước cộng đồng

Áp dụng SXSH có giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng sức cạnh tranh?

Nền kinh tế nước ta đang hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, hơn lúc nào hết, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp càng trở nên bức thiết. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, một trong những yếu tố quyết định là nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm; mặt khác, cần có mối quan hệ tốt với các khách hàng, cộng đồng.

Có thể thấy rất rõ, khi áp dụng SXSH, doanh nghiệp sẽ đạt được những ích lợi như:

         – Giảm các chi phí cho đầu vào của sản phẩm, giảm chi phí cho việc xử lý môi trường (các khoản chi phí, thuế ngày càng trở thành sức ép lớn đối với doanh nghiệp);

        – Nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm do được quản lý tốt hơn, hiệu suất sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu, nguồn lực cao hơn

          – Tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp do giảm chi phí sản xuất

          – Khích lệ đổi mới vì đó là thuộc tính của SXSH

         – Nâng cao tính cạnh tranh và chỗ đứng trên thị trường do chất lượng sản phẩm tốt hơn, uy tín doanh nghiệp trước cộng đồng

         – Nâng cao năng suất do cài tiến quá trình và lôi kéo được mọi người tham gia .Việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường theo cách tiếp cận này là một cách tiếp cận chủ động, làm thái độ của mọi thành viên của doanh nghiệp trở nên tích cực hơn;

Tất cả các yếu tố trên sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp một cách mạnh mẽ.

VNCPC

Giảm đáng kể lượng điện, nước tiêu thụ nhờ áp dụng SXSH

Dự án “Triển khai sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới khu công nghiệp bền vững” đã mang đến cơ hội tiếp cận với quy trình sản xuất sạch hơn, tiết giảm chi phí và phát triển sản phẩm bền vững cho doanh nghiệp.

Mục tiêu của dự án “Triển khai sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới khu công nghiệp bền vững” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) chủ trì là: Tăng cường chuyển giao, ứng dụng và phổ biến áp dụng tiếp cận hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn để giảm thiểu phát thải khí nhà kính, chất thải nguy hại cũng như các chất gây ô nhiễm nước và phương thức quản lý tốt hóa chất tại các khu công nghiệp (KCN) ở Việt Nam.

Chương trình được triển khai từ 2015 đến 2019, với sự tài trợ của Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (SECO), Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Tham gia vào dự án, một công ty thủy sản tại Cần Thơ có tiềm năng giảm đáng kể lượng điện và nước tiêu thụ trong quá trình sản xuất.

Điện áp cao gây lãng phí, giảm tuổi thọ thiết bị

Theo khảo sát ban đầu của các chuyên gia thuộc Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn (VNCPC) tại nhà máy, điện áp đo được ở hai trạm biến áp cao hơn điện áp tiêu chuẩn từ 6,6-7,2%.

Điện áp cao sẽ gây ra tổn thất năng lượng điện cao. Đồng thời, làm quá tải điện áp toàn hệ thống, khiến các thiết bị điện giảm tuổi thọ, đặc biệt là đèn chiếu sáng rất hay cháy vào lúc đêm muộn – khi mà điện áp tăng lên cao nhất.

Theo kinh nghiệm, điện áp cấp cao hơn tiêu chuẩn 10% sẽ gây ra những tổn thất như: tủ lạnh tăng tiêu thụ điện 5%; tủ đá tăng tiêu thụ điện thêm 10%; điều hòa nhiệt độ tăng tiêu thụ điện là 5%; đèn huỳnh quang (đèn tuýp) tăng tiêu thụ điện 8,1%; đèn halogen tăng tiêu thụ điện lên tới17%; đèn thủy ngân tăng tiêu thụ điện mức 20%; đèn compact không tăng tiêu thụ điện nhưng giảm tuổi thọ 45% (nhanh cháy đèn hơn)… Điều này không chỉ gây lãng phí mà còn đẩy chi phí sản xuất tăng cao.

Từ đó, VNCPC đề xuất doanh nghiệp giảm điện áp về tiêu chuẩn sẽ tiết kiệm được khoảng 1-2% tổng điện năng tiêu thụ.

Giảm tiêu hao điện năng nhờ áp suất hút tối ưu

Chế độ máy nén lạnh hiện đang được cài đặt âm quá sâu cũng làm tăng tiêu hao điện năng. VNCPC khuyến cáo việc nâng nhiệt độ cài đặt tại nhà máy lên mức hợp lý có thể giúp giảm tới 20% tiêu hao điện năng so với hiện tại của dây chuyền IQF tương ứng.

Chế độ máy nén lạnh hiện đang được cài đặt âm quá sâu cũng làm tăng tiêu hao điện năng.

Giảm 30% lượng nước rửa tay nhờ điều chỉnh lưu lượng

Ngoài điện năng hao phí, qua khảo sát, vòi nước rửa tay tại nhà máy có lưu lượng lớn đã gây lãng phí nước không nhỏ. Bên cạnh đó, đường ống nước vệ sinh nhà xưởng tại một số điểm không có van đầu vòi cũng làm tăng tổn hao nước.

Theo đó, nếu điều chỉnh giảm lưu lượng nước trong vòi rửa tay, doanh nghiệp đã có thể giảm lượng nước rửa khoảng 30%. Việc lắp van đầu vòi để giảm lãng phí nước (có thể lắp loại vòi tăng áp giúp tăng hiệu quả vệ sinh thiết bị nhà xưởng lên tới 70%) cũng sẽ giúp lượng nước tiêu thụ giảm đáng kể.

Ngoài ra, trong suốt quá trình tham gia cùng dự án, doanh nghiệp còn nhận được rất nhiều những tư vấn hữu ích về bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức lao động cho đội ngũ công nhân và cán bộ quản lý nhằm hướng tới tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển sản phẩm bền vững.

VNCPC

Sản xuất sạch hơn: Thêm cơ hội tiết kiệm năng lượng

Tham gia dự án “Triển khai sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới khu công nghiệp bền vững”, các nhà máy, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội tiết kiệm năng lượng từ sự tư vấn của các chuyên gian sản xuất sạch hơn (SXSH).

Dự án “Triển khai sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới khu công nghiệp bền vững” do Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Cục Kinh tế liên bang Thụy Sĩ (SECO), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) tài trợ.

Mục đích của dự án là tăng cường chuyển giao, ứng dụng, phổ biến công nghệ và phương thức sản xuất sạch hơn để giảm thiểu chất thải nguy hại, phát thải khí nhà kính cũng như các chất gây ô nhiễm nước và phương thức quản lý tốt hóa chất tại các khu công nghiệp (KCN) ở Việt Nam.

Một nhà máy sữa hiện có 150 công nhân. Tham gia dự án, nhà máy đã được đánh giá việc sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP), từ đó giúp nâng cao hiệu quả sản xuất.

Doanh nghiệp có thể tiết kiệm được từ 170 – 181 triệu đồng/năm tiền điện nhờ áp dụng sản xuất sạch hơn. 

Không chỉ có vậy, trong thời gian đánh giá tại nhà máy, các chuyên gia cũng giúp nâng cao năng lực về RECP cho các cán bộ kỹ thuật và quản lý để có thể duy trì kết quả dự án sau khi hỗ trợ kỹ thuật kết thúc.

Theo các chuyên gia Trung tâm sản xuất sạch hơn (VNCPC): Mặc dù nhà máy đã thay phần lớn đèn chiếu sáng sang sử dụng là đèn LED, nhưng vẫn còn một số vị trí đang dùng bóng đèn 250W để chiếu sáng. Việc này đang gây lãng phí không cần thiết.

Tiếp đến, nhà máy chỉ có một hệ thống cung cấp khí nén với áp suất 8 kgfG/cm2; trong khi đó hộ tiêu thụ là 6 và 1,53 kgfG/cm2.

Trên thực tế với cùng một năng suất, máy nén tiêu thụ nhiều điện hơn ở áp suất cao hơn. Do đó, không nên vận hành máy nén ở mức áp suất vượt quá áp suất vận hành tối ưu vì không chỉ lãng phí năng lượng mà còn dẫn đến mòn nhanh, gây thêm các lãng phí năng lượng khác. Hiệu suất thể tích của một máy nén cũng giảm khi áp suất cấp cao hơn.

Hướng giải quyết được các chuyên gia VNCPC đưa ra là nên tách hệ thống hiện tại thành hai hệ thống đều sử dụng máy nén khí (compessor) một hệ thống phát áp suất cao 8 kgfG/cm2 như hiện tại; một hệ thống là 2 kgfG/cm2 phục vụ các nhu cầu áp suất thấp.

Điều này giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm được từ 170 – 181 triệu đồng/năm nhờ giảm áp suất trong máy nén. Theo ước tính, chỉ cần giảm áp suất 1 bar trong máy nén là đã giảm tiêu thụ điện từ  6 – 10 %. Đây chính là những yếu tố giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí hiệu quả khi áp dụng sản xuất sạch hơn.

VNCPC

Áp dụng sản xuất sạch hơn giúp doanh nghiệp nhỏ tránh lãng phí

Doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn được xem là “xương sống” của các hoạt động kinh tế và công nghiệp ở nước ta. Song với quy mô nhỏ, lại chưa thực hiện sản xuất sạch hơn (SXSH), các doanh nghiệp này đã vô tình gây lãng phí tài nguyên không nhỏ.

Nhà máy Gạch Nam Sơn được thành lập năm 2011. Lúc đầu chỉ có 01 dây chuyền gạch mộc và 02 lò nung vòng với công suất trung bình 24 triệu viên/năm.

Đến năm 2017, công ty đầu tư thêm 01 dây chuyền sản xuất gạch mới hiện đại với công nghệ lò nung tuynen. Công suất trung bình 30 triệu viên/năm.

Khi tham gia dự án “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam”, doanh nghiệp đã được các chuyên gia của Trung tâm sản xuất sạch hơn (VNCPC) chỉ ra những lãng phí rất điển hình mà doanh nghiệp đang hàng ngày gặp phải.

Điện áp trên hệ thống phân phối điện nội bộ của công ty đang cao hơn điện áp tiêu chuẩn 6,3 – 11,6 %. “Điện áp cao sẽ gây ra tổn thất năng lượng điện cao, đồng thời làm quá tải điện áp toàn hệ thống và các thiết bị điện sẽ bị giảm tuổi thọ vì quá nóng. Đặc biệt, hệ thống đèn và các thiết bị điện tử như biến tần, máy tính, điều hòa nhiệt độ, hệ thống điều khiển thiết bị… rất dễ bị cháy, nổ”, ông Đinh Mạnh Thắng – chuyên gia của VNCPC – cho biết.

Một số động cơ có dây cu-roa chùng là một yếu tố làm giảm hiệu suất sử dụng điện rất hay gặp ở các nhà máy, vì lúc này năng suất vận hành thiết bị thấp, trong khi lượng điện tiêu thụ vẫn không đổi. Như vậy, chi phí điện theo sản phẩm sẽ tăng cao.

Áp dụng sản xuất sạch hơn vào quá trình sản xuất không chỉ nâng cao hiệu suất sinh thái, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường, mà còn tiết kiệm chi phí đáng kể cho doanh nghiệp.

Việc kiểm soát vận hành không tốt (bavia quá nhiều) cũng đã gây lãng phí điện năng tiêu thụ khoảng 5-6% (tương đương khoảng 3% điện toàn nhà máy).

Theo ông Đinh Mạnh Thắng, chỉ cần sự thay đổi nhỏ như điều chỉnh lại điện áp, mỗi năm công ty đã có thể tiết kiệm tới 50 triệu đồng.

Tương tự, khi thay đường ống nước có đường kính phù hợp hơn với mục đích rửa tay sinh hoạt, cùng với việc chỉnh lưu lượng nước về khoảng 7 lít/phút…, mỗi năm công ty cũng tiết kiệm thêm được những khoản tiền không nhỏ.

Không chỉ có vậy, ý thức của công nhân cũng cần được nâng cao trong thao tác sản xuất và thu gom rác thải hàng ngày đúng quy định để tạo được tác động tổng lực nâng cao hiệu quả cho toàn nhà máy.

Như vậy, áp dụng sản xuất sạch hơn vào quá trình sản xuất không chỉ nâng cao hiệu suất sinh thái, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường, mà còn tiết kiệm chi phí đáng kể cho doanh nghiệp.

VNCPC

Sản xuất sạch hơn cần hiểu thế nào cho đúng?

Khái niệm mặc dù “sản xuất sạch hơn” đã được giới thiệu vào nước ta từ năm 1995. Song đến thời điểm hiện nay, không ít doanh nghiệp người vẫn chưa hiểu đúng về khái niệm này.

Sản xuất sạch hơn là gì?

Theo định nghĩa của UNEP (Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc): Sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường.

       – Đối với quá trình sản xuất: Sản xuất sạch hơn bao gồm bảo toàn nguyên liệu và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm lượng và tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải.

       –  Đối với sản phẩm: Sản xuất sạch hơn bao gồm việc giảm các ảnh hưởng tiêu cực trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, từ khâu thiết kế đến thải bỏ.

       –  Đối với dịch vụ: Sản xuất sạch hơn đưa các yếu tố về môi trường vào trong thiết kế và phát triển các dịch vụ.

Các khái niệm tương tự với sản xuất sạch hơn là: Giảm thiểu chất thải; Phòng ngừa ô nhiễm; Năng suất xanh…

Các khái niệm tương tự với sản xuất sạch hơn là: Giảm thiểu chất thải; Phòng ngừa ô nhiễm; Năng suất xanh… Về cơ bản, các khái niệm này đều giống với sản xuất sạch hơn; đều cùng có ý tưởng cơ sở là làm cho các doanh nghiệp hiệu quả hơn và ít ô nhiễm hơn.

Mục tiêu hướng tới của sản xuất sạch hơn

Mục tiêu của sản xuất sạch hơn là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng một cách có hiệu quả nhất. Điều này có nghĩa là thay vì bị thải bỏ sẽ có thêm một tỷ lệ nguyên vật liệu nữa được chuyển vào thành phẩm.

Khác với suy nghĩ truyền thống về môi trường là tập trung vào vấn đề phải làm gì với các chất thải và phát thải đã phát sinh. Sản xuất sạch hơn hướng tới việc tránh hay giảm thiểu được các chất thải và ô nhiễm trước khi chúng được sinh ra.

Sự khác nhau cơ bản giữa kiểm soát ô nhiễm và sản xuất sạch hơn là thời điểm thực hiện. Kiểm soát ô nhiễm được thực hiện sau khi đã có các chất thải, hay nói cách khác là tiếp cận “phản ứng và xử lý”. Trong khi đó, sản xuất sạch hơn là tiếp cận chủ động, theo hướng “dự đoán và phòng ngừa” theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Mục tiêu của sản xuất sạch hơn là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng một cách có hiệu quả nhất.

Bên cạnh việc giảm thiểu các chất thải và ô nhiễm thông qua sản xuất sạch hơn, giảm nguyên liệu và năng lượng tiêu thụ. Sản xuất sạch hơn phấn đấu đạt hiệu suất sử dụng nguyên liệu trong phạm vi khả thi kinh tế cao sao cho càng gần 100% càng tốt.

Trên thực tế, sản xuất sạch hơn không chỉ là vấn đề thay đổi thiết bị mà còn là thay đổi thái độ, áp dụng bí quyết công nghệ và cải thiện quá trình sản xuất và sản phẩm.

Như vậy, sản xuất sạch hơn mang lại các lợi ích kinh tế song song với giảm tải lượng ô nhiễm. Sản xuất sạch hơn đồng nghĩa với giảm thiểu chất thải và phòng ngừa ô nhiễm. Sản xuất sạch hơn cũng là một bước hữu ích cho hệ thống quản lý môi trường như ISO14000.

VNCPC

Doanh nghiệp được hưởng lợi gì khi sản xuất sạch hơn?

Theo các chuyên gia môi trường: Sản xuất sạch hơn có ý nghĩa đối với tất cả các cơ sở công nghiệp, lớn hay bé, tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng, nước nhiều hay ít…

Vậy doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi như thế nào khi sản xuất sạch hơn?

Sạch hơn tốt hơn cho các doanh nghiệp

Điều đầu tiên, các doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn sẽ giảm thiểu các tổn thất nguyên vật liệu và sản phẩm, do đó có thể đạt sản lượng cao hơn, chất lượng ổn định, tổng thu nhập kinh tế cũng như tính cạnh tranh cao hơn.

Kinh nghiệm thực tế đã chỉ ra rằng sản xuất sạch hơn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích về mặt môi trường. Các lợi ích này bao gồm: Cải thiện hiệu suất sản xuất; Sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng có hiệu quả hơn; Tái sử dụng phần bán thành phẩm có giá trị; Giảm ô nhiễm; Giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải; Tạo nên hình ảnh về mình tót hơn; Cải thiện sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn.

Giảm nguyên liệu và năng lượng sử dụng

Nước và năng lượng rất quan trọng, đặc biệt với các doanh nghiệp sử dụng với khối lượng lớn. Vì vậy, không một doanh nghiệp nào có thể chấp nhận việc thải bỏ các tài nguyên này dưới dạng chất thải.

Tiếp cận tài chính dễ dàng hơn

Doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn sẽ tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn hỗ trợ tài chính.

Các cơ quan tài chính ngày một nhận thức rõ sự nghiêm trọng của việc huỷ hoại môi trường. Do đó, các kế hoạch hành động về sản xuất sạch hơn sẽ đem lại hình ảnh môi trường có lợi về doanh nghiệp tới các tổ chức tài chính. Điều này, sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn hỗ trợ tài chính.

Các cơ hội thị trường mới

Việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề môi trường đã dẫn đến sự bùng nổ nhu cầu về sản phẩm xanh tại thị trường trong nước và quốc tế. Chính vì vậy, khi doanh nghiệp đã có những nỗ lực nhận thức về sản xuất sạch hơn có thể mở ra được nhiều cơ hội thị trường mới và sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn và có thể bán ra với giá cao hơn.

Các doanh nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn cũng dễ dàng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, ví dụ như ISO14001, hoặc các yêu cầu của thị trường như nhãn sinh thái.

Thực hiện đánh giá sản xuất sạch hơn cũng sẽ giúp cho việc thực hiện hệ thống quản lý môi trường như ISO 14001 đơn giản hơn.

Tạo nên hình ảnh công ty tốt hơn

Sản xuất sạch hơn phản ánh và cải thiện hình ảnh chung về doanh nghiệp của bạn. Một công ty với hình ảnh “xanh” sẽ được cả xã hội đón nhận dễ dàng hơn.

Môi trường làm việc tốt hơn

Việc nhận thức ra tầm quan trọng của môi trường làm việc sạch và an toàn đang ngày một gia tăng trong số các công nhân. Bằng cách đảm bảo các điều kiện làm việc thích hợp thông qua thực hành sản xuất sạch hơn, doanh nghiệp có thể làm tăng ý thức của các cán bộ, đồng thời xây dựng ý thức kiểm soát chất thải. Các hoạt động như vậy sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được khả năng cạnh tranh.

Việc nhận thức ra tầm quan trọng của môi trường làm việc sạch và an toàn đang ngày một gia tăng trong số các công nhân.

Tuân thủ luật môi trường tốt hơn

Các tiêu chuẩn môi trường về phát thải các chất thải (lỏng, rắn, khí) đang trở nên ngày một chặt chẽ hơn. Muốn đáp ứng được các tiêu chuẩn này, doanh nghiệp  thường phải lắp đặt các hệ thống kiểm soát ô nhiễm phức tạp và đắt tiền.

Trong khi đó, sản xuất sạch hơn hỗ trợ cho việc xử lý các dòng thải. Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ tuân thủ các tiêu chuẩn thải một cách dễ dàng, đơn giản và rẻ tiền hơn. Sản xuất sạch hơn cũng giúp giảm chất thải, giảm lượng phát thải và thậm chí giảm cả độc tố theo quy luật vòng tròn.

Như vậy, sản xuất sạch hơn là một xu thế mà thời gian tới, các doanh nghiệp muốn chiến thắng trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt về chất lượng, giá cả sản phẩm… đều phải tham gia. Khi tham gia sớm, doanh nghiệp càng sớm có cơ hội đạt được vị trí dẫn đầu.

Thúc đẩy tiêu dùng và sản xuất sản phẩm xanh thông qua mua sắm công bền vững

Mới đây, Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã tổ chức hội thảo tổng kết dự án “Thúc đẩy tiêu dùng và sản xuất sản phẩm xanh thông qua mua sắm công bền vững và nhãn sinh thái” do Chương trình môi trường Liên hợp quốc tài trợ, thực hiện tại Việt Nam từ 2014 – 2017.

Trong những năm qua, dự án “Thúc đẩy tiêu dùng và sản xuất sản phẩm xanh thông qua mua sắm công bền vững và nhãn sinh thái” (gọi tắt là Dự án SPPEL) được Tổng cục Môi trường tích cực triển khai và đạt được các kết quả đáng ghi nhận.

Cụ thể, Dự án SPPEL đã cơ bản hoàn thành và đạt được các mục tiêu đề ra như hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xây dựng năng lực và kỹ thuật về xây dựng các chính sách mua sắm công bền vững và nhãn sinh thái; hỗ trợ thực thi các chính sách về mua sắm công bền vững và nhãn sinh thái nhằm đạt hiệu quả tối đa của việc sử dụng hai công cụ này; tạo diễn đàn trao đổi giữa các nhà khoa học, các cơ quan quản lý, khu vực tư nhân về xây dựng chính sách nhằm đảm bảo lồng ghép mua sắm công bền vững và nhãn sinh thái trong quá trình ra quyết định.


Dự án SPPEL được Tổng cục Môi trường tích cực triển khai và đạt được các kết quả đáng ghi nhận.

Bên cạnh đó, dự án đang xây dựng kế hoạch hành động về mua sắm công bền vững với mục tiêu thúc đẩy việc áp dụng mua sắm công bền vững ở Việt Nam, đặc biệt trong các cơ quan trung ương thông qua tăng cường năng lực, truyền thông và thúc đẩy việc sử dụng nhãn sinh thái như là cách thức xác nhận các tiêu chí môi trường cùng với việc điều chỉnh các tiêu chí về xã hội và kinh tế hiện đang được sử dụng trong đấu thầu thông thường.

Dự kiến kế hoạch có các nội dung chính như rà soát và điều chỉnh khung pháp lý, tăng cường năng lực, truyền thông và nâng cao nhận thức, xây dựng kế hoạch mua sắm công bền vững cho các cơ quan trung ương, thúc đẩy sản xuất các sản phầm bền vững và chứng nhận nhãn sinh thái, tiếp cận thị trường, hợp tác quốc tế.

Phát biểu tại Hội thảo, ông Hoàng Văn Thức – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường nhấn mạnh, trong bối cảnh nền kinh tế tái cơ cấu để hướng tới phát triển bền vững, ứng dụng mua sắm công bền vững sẽ có đóng góp to lớn tới những mục tiêu phát triển bền vững, bao gồm nâng cao chất lượng sản xuất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, an ninh và bình đẳng trong xã hội. Mua sắm công bền vững sẽ không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn thúc đẩy bình đẳng cả về xã hội và các khía cạnh kinh tế.

Theo Laodongthudo.vn

Hội thảo Công nghệ nhiệt phân cải thiện chất lượng cà phê

Trong khuôn khổ Chương trình toàn cầu của UNIDO-UNEP về ‘Hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn” do Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO) tài trợ, Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đã chọn công ty TNHH trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là đơn vị thực hiện dự án “Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì nền sản xuất các bon thấp trong ngành chế biến lúa-gạo và cà phê ở Việt Nam” (2013 -2017) với sự hỗ trợ kỹ thuật của công ty Sofies, Thụy Sỹ.

Mục tiêu của dự án này là: (i) Cải thiên môi trường địa phương; (ii) Giảm phát thải khí nhà kính và (iii) Mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.

Để giới thiệu và thảo luận các biện pháp nhân rộng các kết quả đã đạt được của dự án trong ngành cà phê, đặc biệt là kết quả chuyển giao công nghệ, sáng ngày 10/11/2017, tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đak Lak, UNIDO đã phối hợp với công ty Viết Hiền, VNCPC, Sofies và Neumann Group tại Việt Nam đồng tổ chức hội thảo “Công nghệ nhiệt phân cải thiện chất lượng cà phê”. Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm của 130 đại biểu. Dự hội thảo có ông Nguyễn Hải Ninh, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đak Lak, ông Lê Văn Đức, Phó Cục trưởng cục Trồng trọt và Phát triển nông thôn, Lãnh đạo sở, ngành, các doanh nghiệp, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh cùng đại diện hộ nông dân được hưởng thụ trực tiếp lợi ích từ dự án.

Tại hội thảo, các đại biểu đã được nghe giới thiệu kết quả áp dụng đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên và sản xuất sạch hơn tại các doanh nghiệp chế biến cà phê, đặc biệt là thành công trong chuyển giao công nghệ nhiệt phân từ Thụy Sỹ cho công ty Viết Hiền nhờ sự kết nối của dự án với dự án REPIC của Sofies đang thực hiện ở Peru.

Bà Nguyễn Thị Huệ – Giám đốc Công ty TNHH Viết Hiền phát biểu khai mạc Hội thảo

Để triển khai thực hiện dự án, VNCPC và Sofies đã phối hợp Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA) và Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Tổng công ty lương thực I & II nghiên cứu tổng quan hai ngành này, triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức về sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn cho các doanh nghiệp trong ngành, đồng thời đào tạo xây dựng năng lực cho các doanh nghiệp điển hình tham gia dự án.

Trong 4 năm qua, dự án đã hướng dẫn và hỗ trợ 10 doanh nghiệp chế biến gạo và 10 công ty chế biến cà phê thực hiện đánh giá hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn, giúp các doanh nghiệp này tiết kiệm 1,08 triệu kwh/năm tương đương 80.000 USD, cắt giảm 621 tấn CO2/năm.

Đại diện nhà tài trợ UNIDO (giữa) và các chuyên gia thảo luận cùng đại biểu

Thành công nổi bật của dự án là đã thực hiện được mục tiêu của chương trình về chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường. Công ty Viết Hiền ở thành phố Buôn Ma Thuột không chỉ thành công trong tiếp nhận công nghệ nhiệt phân mà đã tự chế tạo thành công lò đốt quy mô công nghiệp theo công nghệ này để đốt vỏ cà phê. Sản phẩm của quá trình đốt này là nhiệt năng phục vụ quá trình sấy khô cà phê và than sinh học (biochar) có khả năng cải tạo đất cao.

Hệ thống lò đốt nhiệt phân và sấy do công ty Viết Hiền chế tạo được lắp đặt và đưa vào hoạt động thành công tại hợp tác xã Bình Minh, huyện Cư M’gar, đã giúp các xã viên của HTX này đạt hiệu quả cao trong vụ thu hoạch cà phê năm 2016 nhờ sấy sản phẩm khô kịp thời ngay sau thu hoạch. Hệ thống lò đốt nhiệt phân này cũng đã được xuất khẩu sang Brazil để thử nghiệm. Bên cạnh đó, công nghệ còn tiềm năng áp dụng để xử lý vỏ cà phê chế biến theo công nghệ ướt hoặc thu hồi nhiệt từ chất thải các ngành nông lâm nghiệp như bã mía, ngô, cây lương thực, v.v… Công ty đã nhận được yêu cầu thiết kế dây chuyền thiết bị theo công nghệ nhiệt phân cho một số khách hàng tiềm năng trong nước và nước ngoài.

Theo đánh giá của các tổ chức và đối tác, công nghệ này là một giải pháp hiệu quả phục vụ sự phát triển bền vững của ngành cà phê trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Hệ thống công nghệ nhiệt phân chuyển giao thành công từ Thụy Sỹ đang được sử dụng để sấy cà phê tại HTX Bình Minh, huyện Cư M’gar, Đaklak

Để đưa công nghệ này đến gần hơn với doanh nghiệp trong nước, nhiều chuyên gia khuyến nghị doanh nghiệp cần tiếp tục hoàn thiện sản phẩm để hạ giá thành; đánh giá tiềm năng áp dụng rộng rãi công nghệ nhiệt phân và sản phẩm phụ của công nghệ này trong ngành cà phê và ngành nông sản khác. Phát biểu tại Hội thảo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hải Ninh đánh giá cao sự nỗ lực của các đối tác và khuyến nghị từ các chuyên gia đóng góp cho việc hoàn thiện sản phẩm. Để nhân rộng công nghệ này đến với doanh nghiệp, UBND tỉnh sẽ phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tỉnh đưa ra giải pháp hỗ trợ tín dụng cho đơn vị sản xuất, sử dụng, góp phần nâng cao giá trị sản xuất của ngành cà phê trong tương lai.

 VNCPC

Hội thảo “Giảm thiểu và tăng giá trị chất thải trong ngành sản xuất lúa gạo các bon thấp”

Ngày 31 tháng 8 năm 2017, tại Cần Thơ, Dự án “Giảm thiểu và tăng giá trị chất thải trong ngành sản xuất lúa gạo các bon thấp” tổ chức hội thảo tham vấn các đối tác liên quan và các nhà máy xay xát tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Dự án do Tổ chức Phát triển Hà Lan thực hiện trong khuôn khổ “Mạng lưới và trung tâm công nghệ khí hậu (CTCN)” do Công ty TNHH Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam (trường Đại học Bách Khoa Hà Nội) xây dựng đề xuất và đệ trình lên cơ quan đầu mối quốc gia của CTCN tại Việt Nam là Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu (Cục KTTV BĐKH). Dự án do Tổ chức công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) tài trợ.

Hội thảo có sự tham gia của trên 50 đại biểu đại diện nhà tài trợ (UNIDO), Cục KTTV BĐKH, SNV, VNCPC, các doanh nghiệp chế biến lúa gạo, Sở ban ngành địa phương, các doanh nghiệp cung cấp công nghệ sử dụng trấu, trường đại học, viện nghiên cứu…

Tổng quan về dự án, thông tin chung về các đơn vị, tổ chức tham gia dự án cũng như kỳ vọng của các bên hữu quan về mục tiêu hội thảo đã được giới thiệu và trao đổi ở phần đầu tiên của hội thảo. Tiếp đó, đại diện đơn vị thực hiện dự án SNV Việt Nam lần lượt trình bày các kết quả của dự án như công cụ lựa chọn công nghệ để tận dụng trấu một cách hiệu quả nhất, mô hình kinh doanh than sinh học và amorphous silica ash, mô hình kinh doanh củi trấu và các lựa chọn tiếp cận về tài chính cho các mô hình kinh doanh này. Sau các phần tham luận, các đại biểu tham gia hội thảo đã thảo luận và đóng góp nhiều ý kiến bổ ích giúp cho đơn vị thực hiện hoàn thiện các sản phẩm của dự án cũng như các phương án hữu ích để các đơn vị trong ngành chế biến lúa gạo có thể lựa chọn để triển khai có hiệu quả.

Thông tin về dự án

Mạng lưới và trung tâm công nghệ khí hậu (CTCN) là cơ quan thực hiện của Cơ chế Công nghệ thuộc Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC), được phối hợp thực hiện bởi Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO). Mạng lưới này được hỗ trợ bởi 11 cơ quan đối tác có chuyên môn về công nghệ khí hậu. Sứ mệnh của CTCN là đẩy mạnh phát triển và chuyển giao công nghệ khí hậu theo yêu cầu của các quốc gia đang phát triển với mục tiêu phát triển hiệu quả năng lượng, phát thải thấp và thích nghi với biến đổi khí hậu.

Dự án “Giảm thiểu và tăng giá trị chất thải trong ngành sản xuất lúa gạo các bon thấp” được CTCN phê duyệt dựa trên yêu cầu của Cơ quan đầu mối quốc gia (NDE) thuộc Cục KTTV BĐKH – Bộ Tài nguyên Môi trường. Mục đích của dự án là tìm hiểu các công nghệ khác nhau để làm tăng giá trị của trấu nhằm giảm thiểu chất thải và hỗ trợ cải thiện hiệu quả kinh tế của các nhà máy xay xát, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính.

VNCPC

Nền kinh tế tuần hoàn ở các nước đang phát triển: Giải quyết chất thải là điểm bắt đầu

Từ 26 – 29 tháng 7 năm 2017, Diễn đàn Nghiên cứu Toàn cầu (Global Research Forum – GRF) về Sản xuất và Tiêu dùng bền vững (SCP) đã diễn ra tại thành phố Brighton (Vương quốc Anh) với sự tham dự của các nhà nghiên cứu phát triển, đại diện của giới kinh doanh, cơ quan chính phủ, các tổ chức xã hội.

Mục đích của diễn đàn năm 2017 này nhằm xác định các vấn đề kết nối giữa nền kinh tế tuần hoàn, lối sống bền vững và các vấn đề sinh kế với mục tiêu phát triển bền vững (SDGs).

Diễn đàn do Viện Nghiên cứu phát triển và Khoa Nghiên cứu Chính sách Khoa học (Trường Đại học Sussex – Anh) với sự hỗ trợ của Chương trình SWITCH-Asia và sự tham gia của hơn 130 đại biểu từ các nước trên thế giới.

Các nhà nghiên cứu, đại diện đến từ các tổ chức, doanh nghiệp, các cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức xã hội tham dự Diễn đàn toàn cầu lần thứ 3 tại thành phố Brighton (Vương quốc Anh). (Nguồn: Institute for Development Studies)

Phát biểu khai mạc, Ông Janez Potočnik, Cựu Cao ủy viên về Môi trường của Liên minh Châu Âu và cũng là chủ tọa của phiên thảo luận đã đưa ra các yếu tố chính nhằm kết nối các vấn đề toàn cầu trong mối tương quan lớn như xóa đói giảm nghèo và mất cân bằng xã hội, các vấn đề môi trường, đô thị hóa và toàn cầu hóa có ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển bền vững như thế nào. Ông Janez cũng nhấn mạnh sự cần thiết để chuyển đổi sang mô hình kinh tế mới mà có thể tích hợp được tất cả các trụ cột của sự phát triển bền vững, trong đó SCP được xác định là chiến lược có hiệu quả nhất để tạo ra sự hiệp lực nhằm tạo nên các mục tiêu phát triển bền vững. Trong bối cảnh này, nền kinh tế tuần hoàn là một khái niệm có tính khả thi để đưa SCP vào trong thực tiễn.

Ông. Potočnik điểm lại các vấn đề thực hiện mục tiêu phát triển bền vững SDGs là ưu tiên của các quốc gia (Nguồn: Institute for Development Studies)

Ngoài ra Ông Janez cũng nhấn mạnh thêm việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững là ưu tiên của các quốc gia được xác định trong các văn kiện có tính chiến lược trong đó các chỉ số đều liên quan đến các quyết định chính sách cơ bản. Điều này có nghĩa rằng, tất cả các chính sách liên quan đều sẽ bị điều chỉnh một cách có hệ thống hướng đến giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu, quản lý nguồn lực và tuần hoàn nền kinh tế.

Nền kinh tế tuần hoàn và lối sống bền vững

Để thực hiện nền kinh tế tuần hoàn trong cuộc sống thường ngày, các diễn giả và đại biểu đều thống nhất về sự quan trọng của việc quảng bá cho lối sống bền vững. Ông Lewis Akenji, Nghiên cứu viên về Chính sách thuộc Viện Chiến lược môi trường toàn cầu (IGES) giải thích ba thành tố có thể sẽ được các bên liên quan khai thác và phát triển thêm là vai trò của các tổ chức, trách nhiệm rõ ràng của các bên liên quan và bài học kinh nghiệm từ các dự án thử nghiệm.

Ông Jeffrey Barber, Chủ tịch Diễn đàn Chiến lược tổng hợp (Integrative Strategies Forum) cũng đưa ra những ý kiến về cấp độ của nền kinh tế tuần hoàn phía sau những quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững thông qua câu hỏi “Liệu nó có bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi tư duy tuyến tính (tạo ra, sử dụng và bỏ) hay bởi tư duy nền kinh tế tuần hoàn?”. Để thực hiện nền kinh tế tuần hoàn chúng ta cần phải biết cái gì thực sự thúc đẩy con người và làm thế nào để chúng ta có thể tác động đến họ để chuyển sang lối sống bền vững. Ngoài ra Ông Jeffrey còn nhấn mạnh sự suy nghĩ của con người là mấu chốt nhất là đối với những người ra quyết định chiến lược.

Phụ nữ và nền kinh tế tuần hoàn

Khép kín vòng tuần hoàn đối với nguyên vật liệu và tài nguyên yêu cầu một phương thức quản lý chất thải phù hợp ở quy mô đô thị. Ở những nước đang phát triển những người thu gom chất thải có vai trò không thể thiếu trong phân loại rác. Bà Sonia Dias từ tổ chức WIEGO có trụ sở ở Brazil đã đề cập đến những thách thức là làm thế nào để có thể kết nối mọi người đang làm việc ở những lĩnh vực không chính thức (đa phần là phụ nữ) như thu gom chất thải trong các vấn đề của nền kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Những người đang làm việc ở bên lề xã hội thường có xu hướng bị bỏ quên khi đề cập trong các vấn đề chính sách. Do đó nếu có thể, bà ủng hộ việc chính thức hoá những người thu gom rác để công việc của họ có thể được công nhận và họ cũng có thể được hưởng một mức độ bảo trợ xã hội thông qua chính phủ.

Những mối quan tâm tương tự đã được bà Nalini Shekar, Giám đốc Hasiru Dala, một tổ chức phi chính phủ (NGO) có trụ sở tại Bangalore, Ấn Độ, chủ yếu làm việc với người thu gom rác thải. Cho đến nay, Hasiru Dala đã tiếp cận khoảng 7.000 người thu gom không chính thức để hỗ trợ thu gom chất thải của thành phố Bangalore. Hasiru Dala giúp tổ chức những người thu gom rác, từ đó cho họ cơ hội để nói lên nhu cầu của họ với chính phủ. Hiện có nhiều phụ nữ và nam giới làm việc như những người thu gom rác ở thành phố có khoảng 8 triệu người sinh sống.

Cơ chế tài chính xanh

Trong hội nghị, nhiều phiên họp song song đã cung cấp cho người tham gia hiểu rõ hơn về nhiều dự án nghiên cứu khác nhau và kết quả của họ. Trong một cuộc họp song song, ông Galib Ibn Anwarul Azim từ Quỹ Phát triển Vốn Liên hợp quốc tại Bangladesh đã giải thích kế hoạch tài chính xanh mới, “kế hoạch tái cấp vốn cho các sản phẩm / sáng kiến ​​xanh” do chính phủ Bangladesh phát triển. Trong chương trình này, có 51 sản phẩm / sáng kiến ​​từ tám lĩnh vực được liệt kê, trong số đó là năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng hiệu quả và quản lý chất thải rắn. Bên cạnh kế hoạch tài trợ này, Quỹ Chuyển đổi Xanh (GTF) là cơ chế cho vay mới nhất cho hai ngành xuất khẩu chính, dệt may và thuộc da bắt đầu từ tháng 1 năm 2016. Đây là quỹ quay vòng 200 triệu USD có nguồn gốc từ Ngân hàng Bangladesh. GTF sẽ hỗ trợ 10 loại sáng kiến ​​xanh, thân thiện với môi trường như sử dụng hiệu quả tài nguyên và tái chế, năng lượng tái tạo, hiệu suất năng lượng và quản lý chất thải.

Nguồn: switch-asia.eu