10 vấn đề nóng của ngành tài nguyên và môi trường trong năm 2018

Năm 2018 được nhắc đến không chỉ bởi thiên tai, ngập lụt ở các thành phố, mà còn hàng loạt vấn đề nóng gây xôn xao dư luận. Đó là việc “xẻ thịt” rừng phòng hộ xây dựng biệt thự trái phép ở Sóc Sơn, nhập khẩu phế liệu diễn biến phức tạp, “bom nước” ở Nha Trang, hay việc sử dụng vốn đầu tư công của Bộ Tài nguyên và Môi trường: “đụng đâu sai đó.”

Xin điểm lại những vấn đề gây xôn xao dư luận trong năm qua.

Hàng loạt thành phố chìm trong “biển nước” do mưa lũ

Do ảnh hưởng của nhiễu động trong đới gió Đông trên cao gây mưa lớn kéo dài từ ngày 7 đến 12/12, nhiều khu vực trên cả nước, đặc biệt là các thành phố lớn như Đà Nẵng, Vinh, Hội An, Nha Trang (Khánh Hòa), Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế đã bị ngập lụt cục bộ, nhiều tuyến đường biến thành sông.

Trước đó, cuối tháng 11, cơn bão số 9 đi qua một dải Nam Trung Bộ và Nam Bộ, cũng đã ảnh hưởng dọc các tỉnh từ Ninh Thuận đến Bến Tre, đồng thời trút lượng mưa kỷ lục xuống Thành phố Hồ Chí Minh, biến khu vực nội đô ngập nặng.

Tại Hà Nội, do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài từ ngày ngày 18 đến 31/7, mực nước sông Tích, sông Bùi qua địa bàn huyện Chương Mỹ dâng lên rất cao, khiến hàng nghìn căn nhà chìm sâu trong nước lũ; hàng nghìn hécta hoa màu, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản, gia súc gia cầm bị lũ dữ hủy hoại, bị cô lập nhiều ngày.

Nhập khẩu phế liệu vào Việt Nam diễn biến phức tạp

Năm tháng đầu năm 2018, khối lượng nhựa phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam tăng đột biến, gấp gần 2 lần so với cả năm 2017. Trong khi, với hàng nghìn container phế liệu đang bị tồn, một số cảng biển nước ta có nguy cơ thành “bãi rác phế liệu” của thế giới sau khi Trung Quốc ngưng nhập khẩu 24 mặt hàng phế thải.

Trước tình trạng “báo động” nhập khẩu phế liệu, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng với các Bộ, địa phương thực hiện kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong việc để xảy ra tình trạng trên; tăng cường phối hợp để kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu phế liệu, không để Việt Nam trở thành bãi thải, ảnh hưởng tới môi trường sống và uy tín của Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc rà soát, ngăn chặn việc nhập lậu phế liệu vào Việt Nam.

“Xẻ thịt” đất rừng xây biệt thự trái phép

Tình trạng “xẻ thịt” đất rừng phòng hộ để xây biệt phủ, công trình trái phép tại huyện Sóc Sơn (Hà Nội) là câu chuyện thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận trong năm 2018. Trong đó, dư luận đặc biệt quan tâm đến khu biệt thự của gia đình ca sĩ Mỹ Linh và Việt phủ Thành Chương. Hai khu này được cho là đã “xẻ thịt” rừng phòng hộ và có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng về đất đai.

Trước đó trả lời trong cuộc giao ban báo chí Thành ủy diễn ra vào chiều ngày 16/10, ông Đỗ Minh Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Sóc Sơn cho biết, hai công trình này nằm trong danh sách các công trình trong kết luận của Thanh tra Chính phủ về thanh tra đất rừng Sóc Sơn từ năm 2006 và huyện đang xử lý.

Do công trình này thuộc sự quản lý của giai đoạn trước nên cần có sự thống nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để xử lý theo đúng kết luận của Thanh tra Chính phủ.

Sử dụng vốn đầu tư công “đụng đâu sai đó”

Trước thông tin phản ánh công tác quản lý, sử dụng vốn đầu tư công của Bộ Tài nguyên và Môi trường có “nhiều vi phạm” và “đụng đâu sai đó,” sáng ngày 5/5, Bộ này đã phát đi thông cáo báo chí giải thích một số nội dung báo chí phản ánh.

Theo Thông cáo, việc Thanh tra Bộ Tài chính triển khai thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về công tác quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng tại Bộ Tài nguyên và Môi trường và các đơn vị trực thuộc là hoạt động thanh tra định kỳ theo kế hoạch; không phải thanh tra vụ việc cụ thể khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm.

Trong quá trình thanh tra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có báo cáo, giải trình cụ thể về các nội dung của từng dự án và đã được Thanh tra Bộ Tài chính tiếp thu, được thể hiện trong kiến nghị của Kết luận Thanh tra đối với các thiếu sót và biện pháp khắc phục (chủ yếu là thiếu sót về trình tự thủ tục, thời gian, không phải là vi phạm về sử dụng, chi sai nguồn vốn, gây ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước).

Sạt lở khủng khiếp ở Nha Trang khiến 19 người chết

Sáng 18/11, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão Toraji suy yếu, trận mưa lớn kéo dài kéo theo sạt lở khiến đất đá đổ xuống đã vùi lấp hàng chục nhà dân ở thành phố Nha Trang (Khánh Hòa), làm 19 người chết, 28 người bị thương.

Trong đó, riêng sự cố vỡ hồ chứa nước nhân tạo tại dự án khu dân cư cao cấp Hoàng Phú ở phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang gây sạt lở đã khiến gia đình thầy giáo gồm 4 người tử nạn, hàng loạt căn nhà đổ sập.

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus, giáo sư tiến sỹ Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho rằng việc quy hoạch xây dựng “bom nước” trên núi cao, trong khi dân cư ở dưới đường thoát lũ là việc làm sai lầm.

“Thử hỏi, nếu như không vỡ hồ chứa nước nhân tạo ‘treo’ trên núi, liệu sạt lở có xảy ra như các điểm khác trong thành phố Nha Trang và mức độ ảnh hưởng có nghiêm trọng đến mức sập nhà, chết người nặng nề như vậy?,” ông Hồng nói.

Xôn xao việc bổ nhiệm quyền Tổng cục trưởng Biển và Hải đảo

Ông Tạ Đình Thi, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, thành viên Ban cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường, là đơn vị từng bị kỷ luật tập thể vì sự cố Formosa nhưng vẫn được bổ nhiệm giữ chức quyền Tổng cục trưởng Biển và Hải đảo.

Trước nghi vấn về việc bổ nhiệm trên, chiều 12/4, tại buổi họp báo quý 1/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thứ trưởng Trần Quý Kiên cho biết khi sự cố Formosa xảy ra, tập thể Ban cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2010-2016 bị kỷ luật. Song, cá nhân ông Tạ Đình Thi không liên quan trực tiếp đến vụ Formosa, do vậy, không có hình thức kỷ luật với riêng ông Thi.

4.000 lít dầu tràn ra đồng, nhiều gia đình phải sơ tán

Ngày 17/12, tại khu vực phố 5, thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa xảy ra sự cố cháy dầu tràn ra kênh mương. Ước tính khối lượng dầu rò rỉ ra môi trường hơn 4.000 lít, khiến hơn 5 hécta đất ruộng và hơn 800-1.000m đường kênh mương nội đồng bị nhiễm dầu.

Theo thông tin ban đầu từ các lực lượng chức năng, nguyên nhân tràn dầu ra môi trường được xác định là do tràn bể thu váng dầu của một cây xăng quân đội sát Cảng Lễ Môn, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Dầu rò rỉ, chảy vào hệ thống thoát nước dọc khu dân cư, đổ ra cánh đồng.

Ngay trong ngày, Ủy ban Nhân dân thành phố Thanh Hóa đã họp khẩn với Bộ đội Biên phòng, Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an tỉnh Thanh Hóa và các doanh nghiệp lên phương án xử lý, khắc phục sự cố.

Formosa không có trong kế hoạch thanh tra của Bộ Tài nguyên

Liên quan đến thông tin không đưa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) vào kế hoạch thanh tra năm 2018, chiều 3/5, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra thông cáo báo chí giải thích tới công luận.

Nội dung thông cáo báo chí cho biết, ngay sau khi FHS nhận trách nhiệm gây ra sự cố môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp chặt chẽ với tỉnh Hà Tĩnh, các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan đưa FHS vào “chế độ giám sát đặc biệt và nghiêm ngặt” để thường xuyên kiểm tra, giám sát quá trình khắc phục hậu quả vi phạm của FHS, đảm bảo không để tái diễn sự cố.

Từ ngày 22/7/2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thành lập Tổ giám sát FHS trong việc thực hiện cam kết khắc phục sự cố môi trường tại 4 tỉnh miền Trung.

“Nóng” vụ sai phạm ở Khu đô thị mới Thủ Thiêm

Sau kết luận của Thanh tra Chính phủ về sai phạm ở Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xin nhận trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng vì đã thực hiện không đúng quy hoạch được Thủ tướng phê duyệt.

Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng chân thành xin lỗi nhân dân thành phố, nhất là các hộ dân bị ảnh hưởng tại khu vực 4,3 ha ngoài ranh quy hoạch thuộc Khu phố 1, phường Bình An, quận 2, đã chịu nhiều thiệt thòi, tổn thất, vất vả trong cuộc sống nhiều năm qua.

Thành phố cũng cam kết xây dựng xong chính sách bồi thường trước 30/11; đồng thời xử lý vi phạm với tổ chức, cá nhân liên quan trước ngày 30/11.

Nền đa dạng sinh học đang bị đe dọa nghiêm trọng

Năm 2018, liên tục xảy ra những vụ giết động vật hoang dã, quý hiếm rồi livestream, đăng ảnh lên mạng xã hội facebook để khoe chiến tích khiến dư luận phẫn nộ bởi hành vi đó đã đạt tột cùng của sự tàn ác.

“Quá tàn nhẫn, man rợn! Sao những hình ảnh dã man thời trung cổ lại có thể tái hiện ở xã hội văn minh?”. Nhiều người đã phải thốt lên như vậy khi xem đoạn livestream trên Facebook về một nhóm 5 đối tượng ở huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) đang giết động vật hoang dã nghi khỉ hoặc voọc chà vá chân nâu.

Đặc biệt, nhóm người đàn ông này đã dùng dao bổ mạnh lên phần đầu của cá thể này rồi dùng muỗng và tay múc não cá thể ăn sống với rượu ngay tại chỗ. Đám người này sau đó đã cạo lông, làm thịt cá thể nghi khỉ này.

Chỉ ít ngày sau, dư luận lại tiếp tục phẫn nộ với việc một giám đốc doanh nghiệp giết thịt hai con chim hoang dã nghi Cao cát bụng trắng, thuộc họ Hồng hoàng rồi đem khoe lên mạng xã hội Facebook.

Theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN), ở Việt Nam, số loài bị đe dọa toàn cầu không chỉ tăng về số lượng, mà còn tăng về mức độ đe dọa. Nhiều loài được đánh giá bị đe dọa không cao trên quy mô toàn cầu nhưng lại bị đe dọa ở mức rất cao.

Theo VietnamPlus.vn (31/12/2018)

Than đá – Thủ phạm làm nóng trái đất

Than đá được coi là nhiên liệu thải ra nhiều khí độc hại nhất với môi trường so với các nhiên liệu hóa thạch còn lại, là thủ phạm số 1 làm nóng trái đất. Các hội nghị quốc tế chống biến đổi khí hậu trước đây đều tập trung kêu gọi giảm tỉ trọng sử dụng than đá. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, đây vẫn là nguồn nguyên liệu sản xuất điện quan trọng.

Thật trớ trêu, Hội nghị quốc tế chống biến đổi khí hậu COP24 Katowice năm nay (diễn ra từ ngày 2 đến 14/12/2018), nhằm xúc tiến hiệp định khí hậu Paris, lại được khai mạc ngay tại một trong những mỏ than Ba Lan. Và, nhà tài trợ chính của COP24 là Tập đoàn Than đá JSW.

Với Hiệp định Paris năm 2015, quốc tế cam kết giới hạn mức tăng nhiệt độ là 20C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Các nhà khoa học nhấn mạnh, từ nay đến năm 2030 phải giảm 50% việc phát thải khí CO2 so với năm 2010. Các nước phát triển cam kết tài trợ 100 tỉ USD/năm từ nay đến năm 2020 cho chính sách khí hậu của các nước nghèo, nhưng nhiều nước đang phát triển đòi hỏi phải cụ thể hóa lời hứa.

Ba Lan – nước chủ nhà COP24 – là một trong những nguồn sản xuất và tiêu thụ than đá bậc nhất tại châu Âu. Than đá là “vàng đen” của quốc gia đông Âu này. Hàng triệu người dân Ba Lan ngày ngày vẫn phải hít khói bụi từ các mỏ than, từ các nhà máy… Nhiều thành phố của Ba Lan có tên trong danh sách những địa danh ô nhiễm nhất của châu Âu. Nhưng người dân Ba Lan không có sự chọn lựa nào khác. Hiện tại, than đá bảo đảm 80% nhu cầu năng lượng cho gần 40 triệu dân Ba Lan.

Cuối tháng 11/2018, Bộ trưởng Năng lượng Ba Lan Krzysztof Tchorzewski thông báo: Mục tiêu vào năm 2030, Ba Lan sẽ giảm tỷ lệ nói trên xuống còn 60%. Cần biết rằng, mục tiêu mà EU đang hướng tới là 30% vào năm 2030. Vẫn theo Bộ Năng lượng Ba Lan, để giảm bớt lệ thuộc vào than đá, Ba Lan cần xây thêm ít nhất 6 nhà máy điện hạt nhân.


Khai thác than tại Ấn Độ.

Trước mắt, Vacxava bị chỉ trích là không có chiến lược năng lượng rõ ràng. Là một quốc gia sản xuất than đá nhưng Ba Lan vẫn phải nhập than của Nga để đáp ứng nhu cầu nội địa. Ngoài ra, Ba Lan dự định mở thêm nhiều mỏ than, xây dựng thêm các nhà máy điện dùng than đá trong thập niên tới.

Theo các tổ chức bảo vệ môi trường, các nhà khoa học, than đá là nguồn gây ô nhiễm, đe dọa sức khỏe con người. Nhưng đối với dân cư thành phố Katowice và của cả vùng Silesia (miền Nam Ba Lan), than đá là huyết mạch của hàng triệu gia đình. Làm việc trong các mỏ than là một truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác, cho dù đây là nghề nguy hiểm. Trong 11 tháng đầu năm 2018, đã có 21 thợ mỏ tử vong dưới lòng đất Silesia.

Nhìn rộng hơn, trên toàn quốc, có 100.000 công nhân Ba Lan làm việc trong các mỏ than. Tuổi thọ của những người thợ mỏ Ba Lan bị rút ngắn hơn ở bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Ba Lan, nhưng điều đó không làm nản lòng những thế hệ trẻ tại Silesia. Giấc mơ của giới trẻ là được làm việc cho JSW.

Với 27.000 nhân viên, JSW là tập đoàn than đá số 1 Ba Lan và là một trong những tên tuổi trong ngành năng lượng của EU. Không ít thợ mỏ người Ukraine, Slovakia, Hungary, Tây Ban Nha sang Ba Lan tìm việc. Giám đốc JSW Daniel Ozon không khỏi tự hào là nhà tài trợ chính quan trọng nhất của COP24. Điều này không khỏi gây bối rối cho nước chủ nhà. Bộ trưởng Môi trường Ba Lan Henryk Kowalczyk đã phải cải chính rằng, JSW chỉ là một trong số những “Mạnh Thường Quân” bên cạnh những tập đoàn năng lượng sạch của Ba Lan, công ty khí đốt quốc gia PGNiG, các ngân hàng và hãng bảo hiểm…

Nhìn sang nước Pháp, vài ngày trước COP24, Tổ chức Oxfam công bố một báo cáo cho thấy, các ngân hàng Pháp vẫn đầu tư vào các nguồn năng lượng hóa thạch như là dầu hỏa, khí đốt và than đá. Báo cáo ngày 24/11/2018 chỉ ra rằng, 6 ngân hàng lớn của Pháp, gồm BNP Paribas, Société Générale, Crédit Agricole, BPCE, Crédit Mutuel CIC và Banque Postale đầu tư 43 tỉ euro vào năng lượng hóa thạch, cao gấp gần 4 lần so với khoản đầu tư vào năng lượng gió và mặt trời. Oxfam báo động: Số tiền đầu tư vào năng lượng bẩn trong năm 2017 cao hơn so với hồi 2016. Ngược lại, khoản vốn tài trợ cho các dự án phát triển năng lượng xanh đang từ 6,8 tỉ euro năm 2016 rơi xuống còn 5 tỉ euro trong năm 2017. 3 năm sau Thỏa thuận khí hậu Paris, 70% các khoản vốn đầu tư của các ngân hàng Pháp đổ vào các nguồn năng lượng hóa thạch.

Thị trường than đá lớn nhất thế giới là châu Á. Năm 2017, nhu cầu tiêu thụ than đá trên hành tinh đã tăng lên trở lại sau 2 năm sụt giảm. Trung Quốc tuy là một nguồn sản xuất quan trọng nhưng vẫn phải nhập than của nước ngoài để đáp ứng nhu cầu của “công xưởng sản xuất thế giới” và 1,5 tỉ dân.

Theo thẩm định của Cơ Quan năng lượng quốc tế (IEA), trong 2 năm 2017 và 2018, Bắc Kinh cho các nhà máy điện sử dụng than đá hoạt động hết công suất, nhưng Trung Quốc có khuynh hướng từng bước giảm mức độ lệ thuộc vào than đá. Ngược lại, Ấn Độ và nhiều nước Á châu khác như Philippines, Indonesia, Malaysia… sử dụng than đá nhiều hơn.

Theo dự báo của IEA, từ nay đến năm 2040, tiêu thụ than đá trên thế giới khoảng 5.400 triệu tấn. Trung Quốc, Mỹ và EU có xu hướng ít dùng than đá hơn, nhưng bù lại Ấn Độ và các nước Đông Nam Á sẽ lấp vào chỗ trống ấy, bởi than đá là một nguồn năng lượng rẻ. Đó không là một tin vui đối với trái đất. Năm 2017, 40% thải khí carbon đã hâm nóng bầu khí quyển do than đá gây nên.

Khi các nhà máy nhiệt điện trên thế giới đua nhau nhả khói, một trong những giải pháp cộng đồng quốc tế đang hướng tới là thu giữ carbon thải ra. Với những phương tiện hiện tại, thế giới có thể “nhốt” 2,4 triệu tấn carbon 1 năm, con số quá nhỏ, bởi để thực hiện Thỏa thuận chống biến đổi khí hậu Paris, nhân loại phải thu giữ được 350 triệu tấn carbon 1 năm.

Theo dự báo của IEA, từ nay đến năm 2040, tiêu thụ than đá trên thế giới khoảng 5.400 triệu tấn. Trung Quốc, Mỹ và EU có xu hướng ít dùng than đá hơn, nhưng bù lại Ấn Độ và các nước Đông Nam Á sẽ lấp vào chỗ trống ấy, bởi than đá là một nguồn năng lượng rẻ.

Theo S.Phương/petrotimes.vn

Đột phá mới trong việc biến ánh sáng mặt trời thành nhiên liệu

Phương pháp này được đánh giá là hiệu quả hơn so với quang hợp tự nhiên trong việc hấp thụ ánh sáng mặt trời.

Sứ mệnh tìm ra các nguồn năng lượng tái tạo thay thế nguyên liệu hóa thạch đã có bước tiến lớn. Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc phân tách phân tử nước ra thành hai nguyên tố, hydrogen và oxygen bằng cách thay đổi bộ máy quang hợp ở thực vật.

Quang hợp là quá trình thực vật sử dụng ánh nắng mặt trời tạo thành năng lượng. Sau khi cây hấp thụ nước, oxygen được tạo ra. Đây là một phản ứng rất quan trọng đối với hành tinh chúng ta, tạo ra hầu hết lượng oxygen trên Trái Đất.


Nghiên cứu này có thể tạo ra cuộc cách mạng trong việc xây dựng hệ thống sản xuất nguồn năng lượng tái tạo. Ảnh: Clicklancashire.

Một nghiên cứu bởi trường Đại học St John ở Anh đã sử dụng quang hợp bán nhân tạo để sản xuất và lưu trữ năng lượng mặt trời. Bằng các sản phẩm sinh học và công nghệ máy móc, họ đã thành công trong việc sử dụng ánh sáng tự nhiên để biến nước thành hydrogen và oxygen.

Nghiên cứu này có thể tạo ra cuộc cách mạng trong việc xây dựng hệ thống sản xuất nguồn năng lượng tái tạo mới. Trong một bài báo xuất bản trên Nature Energy, phòng thí nghiệm Reisner của trường ĐH Cambridge cũng đã phát triển một nền tảng tách nước mà không cần đến năng lượng mặt trời. Phương pháp này được đánh giá là hiệu quả hơn trong việc hấp thụ ánh sáng mặt trời so với quang hợp tự nhiên.

“Quang hợp tự nhiên không thật sự hiệu quả bởi nó phát triển chỉ để tồn tại. Ngoài ra, nó chỉ cần một lượng năng lượng tối thiểu cần thiết, tầm khoảng 1-2% so với tiềm năng chuyển hóa và lưu trữ của nó”, Katarzyna Sokół, nghiên cứu sinh trường Đại học St John cho biết.

Quang hợp nhân tạo đã xuất hiện cả thập kỉ nay, nhưng chưa thực sự thành công trong việc tạo ra nguồn năng lượng tái tạo bởi còn phụ thuộc vào các chất xúc tác, hầu hết lại thường đắt đỏ và độc hại. Vì thế nó chỉ mới có thể thực hiện trong phòng thí nghiệm chứ chưa thể công nghiệp hóa.

Nghiên cứu từ Cambridge là phần nổi của tảng băng chìm trong lĩnh vực quang hợp bán nhân tạo. Nghiên cứu đặt mục tiêu phá vỡ giới hạn của quang hợp nhân tạo toàn phần bằng cách sử dụng enzym để tạo ra những phản ứng mong muốn.

Sokól và cộng sự không chỉ cải thiện được năng lượng sinh ra và giữ lại, mà còn kích hoạt lại quá trình quang hợp đó trong tảo biển đã ngủ yên cả thiên niên kỉ.

“Hydrogenase là một enzym có trong loại rong này. Nó có khả năng giảm proton xâm nhập vào Hidro. Xuyên suốt lịch sử tiến hóa, quá trình này đã ngừng hoạt động bởi không thật sự cần thiết cho việc sinh tồn. Nhưng chúng tôi đã thành công trong việc bỏ qua những phần không hoạt động để đạt được các phản ứng mong muốn, như việc tách nước thành hydrogen và oxygen”, Sokól giải thích.

Sokól hi vọng thành tựu này có thể phát triển những hệ thống mô hình đổi mới trong việc chuyển đổi năng lượng mặt trời.

“Thật thú vị khi chúng ta có thể lọc chọn quá trình cùng những phản ứng mong muốn nhưng tự nhiên lại không làm được. Đây là nền tảng tuyệt vời để phát triển công nghệ năng lượng mặt trời. Hướng tiếp cận này có thể kết hợp nhiều phản ứng với nhau, sau đó xây dựng các công nghệ năng lượng mặt trời tổng hợp một cách mạnh mẽ hơn”, Sokól cho biết.


Thí nghiệm với cấu hình 2 điện cực cho thấy các tế bào quang điện có phản ứng với ánh sáng mặt trời nhân tạo. Ảnh: Katarzyna Sokół.

Đây là mô hình đầu tiên thành công trong việc sử dụng hydrogenase (Hidro enzym) và Photosystem II để tạo ra hệ thống quang hợp bán nhân tạo sử dụng năng lượng mặt trời thuần túy.

Tiến sĩ Erwin Reisner, trưởng phòng thí nghiệm Reisner, thành viên trường St John thuộc Đại học Cambridge, một trong những tác giả của bài báo mô tả nghiên cứu này là một “cột mốc” quan trọng.

Thành tựu này vượt qua nhiều thử thách, đặc biệt trong việc kết hợp những sản phẩm sinh học, organic thành các vật liệu không còn vô cơ. Từ đó tổ hợp lại thành những thiết bị bán nhân tạo, mở ra công cụ phát triển cho hệ thống chuyển đổi năng lượng mặt trời trong tương lai.

Theo Zing.vn (23/12/2018)

Nên chọn pin loại nào khi lắp đặt điện mặt trời áp mái?

Tấm pin là thành phần quan trọng nhất của hệ thống điện mặt trời. Giải pháp điện mặt trời áp mái hiện nay sử dụng 2 loại pin chính là mono và poly.

Monocrystalline (Đơn tinh thể) và Polycrystalline (Đa tinh thể) cả 2 loại đều có khả năng hấp thu quang năng và chuyển hoá thành điện năng. Tuy nhiên, do cấu tạo từ hợp chất đồng nhất nên hiệu suất, khả năng hoạt động của mono sẽ cao hơn poly nếu so về cùng kích thước.

Tuy nhiên, với cùng một mức công suất tấm pin như nhau, ở cùng một địa điểm, mức điện năng tạo ra của 2 tấm poly và mono là tương đương như nhau.


Sự khác nhau của pin mặt trời poly và mono về hình ảnh.

Hiện nay, nhiều khách hàng hiểu lầm về hiệu suất tạo ra nên có xu hướng chọn nhà cung cấp có giải pháp sử dụng tấm pin mono.

Các chuyên gia cho rằng, việc chọn lựa tấm pin, không phụ thuộc vào loại poly hay mono, mà quan trọng là công suất của tấm là bao nhiêu và kích thước thế nào để phù hợp với nhu cầu và vị trí lắp đặt. Bởi mỗi loại có ưu, nhược điểm riêng khó mà có thể đánh giá loại nào tốt hơn loại nào.


Hệ thống pin năng lượng mặt trời.

Trong đó, pin poly có giá thành thấp hơn so với pin mono, mức độ giãn nở và chịu nhiệt cao. Hiệu suất hoạt động của pin poly nằm trong khoảng từ 13-16 không cao bằng pin mono. Ngoài ra, do hiệu suất làm việc ngoài nắng rất cao làm tuổi thọ pin poly giảm so với pin mono trong cùng điều kiện ánh sáng.

Còn pin mono có hiệu suất hoạt động thường ở khoảng 15-20%; độ bền cao, hiệu quả sử dụng dài lâu; hoạt động hiệu quả hơn so với pin poly trong điều kiện ánh sáng yếu. Tuy nhiên, pin mono có giá thành khá cao do quy trình sản xuất tốn kém và hoạt động kém hiệu quả hơn poly trong cùng điều kiện nhiệt độ tăng cao.

Theo Mai Phương/petrotimes.vn (12/12/2018)

Nhiệt độ toàn cầu sẽ đạt kỷ lục mới

Những nghiên cứu về khí hậu đã chỉ ra rằng, tốc độ nóng lên toàn cầu đang diễn ra nhanh chưa từng có trong hàng nghìn năm qua, thậm chí vượt qua các ngưỡng nhiệt kỷ lục trong suốt khoảng thời gian từ khi kết thúc Kỷ băng hà.

Chưa có thời kỳ nào mà sự gia tăng nhiệt độ lại diễn ra mãnh liệt và nghiêm trọng hơn cả dự báo như ngày nay. Công trình công bố trên Tạp chí Nature Communications mới đây đã phát đi cảnh báo, trong 5 năm tới (2018-2022), nhiệt độ toàn cầu sẽ đạt kỷ lục mới.

Không chỉ bởi con người

Bắc Cực vừa trải qua mùa đông bất thường trong năm 2017 với nhiệt độ trung bình cao hơn 2,2oC, trong khi bán đảo Nam Cực đang được xanh hóa. Những nơi vốn xưa nay được bao phủ bởi những lớp băng dày, là nguồn dự trữ nước ngọt khổng lồ, thì giờ đang tan chảy, nhường chỗ cho những thảm rêu xanh mướt. Không chỉ ở hai cực của Trái đất, hàng loạt hiện tượng thời tiết bất thường đã và đang xảy ra với tần suất cao ở khắp các châu lục.

Năm 2017 cũng là năm mà những cơn bão hoành hành trên biển Đông đạt mức kỷ lục (16 cơn bão và 4 áp thấp). Người dân trên khắp thế giới “điêu đứng” vì làn sóng nhiệt bao trùm khắp bắc bán cầu. Bão nhiệt lan rộng từ châu Á đến châu Âu và sang cả bắc Mỹ. Tổ chức Khí tượng thế giới đã liên tục phát đi cảnh báo về nhiệt độ trung bình hàng tháng đã chạm mức kỷ lục. Ở Nhật Bản, chỉ tính riêng đợt nắng nóng tháng 7/2018 đã cướp đi sinh mạng của 50 người. Hạn hán, cháy rừng đã thực sự trở thành nỗi kinh hoàng của người dân nhiều nơi trên thế giới.

Các nhà khoa học cho rằng, những diễn biến cực đoan của thời tiết là hệ quả của sự ấm lên toàn cầu. Đây được xem là quá trình không thể đảo ngược. Mới đây, các nhà khoa học đã đưa ra cảnh báo, Trái đất đang ở trạng thái khí nhà kính không kiểm soát được. Từ trước đến nay chúng ta đều cho rằng, hoạt động của con người (thông qua sản xuất công nghiệp, chặt phá rừng, sử dụng nhiên liệu hóa thạch…) là nguyên nhân duy nhất làm tăng phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, những yếu tố nội tại cũng góp phần làm gia tăng phát thải khí nhà kính. Quá trình này diễn ra ngày càng mạnh mẽ khi Trái đất nóng lên.

Một lượng lớn khí mêtan (CH4) đang được giải phóng từ các lớp băng dày vùng cực. Loại khí này có tác dụng giữ nhiệt và góp phần làm gia tăng nhiệt độ của Trái đất. Nhiệt độ tăng cũng khiến băng ở vùng cực tan chảy, làm lộ ra những lớp băng vĩnh cửu nơi lưu giữ một lượng lớn CO2. Lượng khí này được bổ sung vào khí quyển trong khi số lượng cây xanh trên Trái đất ngày càng ít đi (do chặt phá rừng, lụt lội, sa mạc và quá trình đô thị hóa). Bên cạnh đó, sự phun trào của núi lửa đã phóng thích bụi vào bầu khí quyển và đây cũng là nguyên nhân làm Trái đất ấm hơn.

Các nhà khoa học dự đoán, có khoảng 30% khí CO2, CH4 giải phóng khỏi lòng đất khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên. Để khẳng định chắc chắn điều đó, các nhà khoa học từ Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley (Hoa Kỳ) đã đo đạc bằng phương pháp và kỹ thuật chuyên môn đối với quá trình giải phóng khí nhà kính, họ đã đo được lượng khí nhà kính giải phóng trong vùng đất ấm cao hơn khoảng 34-37% so với các vùng đất khác. Đặc biệt là 40% lượng khí đó tồn tại ở độ sâu dưới 0,15 m.

Một trong những ngày nắng nóng trong tháng 7/2018 tại Nhật Bản (Ảnh: aP).

Những kỷ lục mới

Theo số liệu của Cơ quan hàng không vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), năm 2016 là năm nóng nhất trong lịch sử, tiếp theo là các năm 2017, 2015 và 2014. Dự báo trong vòng 5 năm tới (2018- 2022), nhân loại có thể sẽ phải hứng chịu những đợt nóng bất thường mới, vượt kỷ lục đã từng ghi nhận vào năm 2016. Nhiệt độ các khu vực trên địa cầu tăng đột biến, những đợt sốc nhiệt có thể xảy ra trên các vùng của đại dương khiến nhiều rặng san hô ở vùng nhiệt đới đối mặt với nguy cơ chết hàng loạt, tốc độ tan băng ở hai cực sẽ diễn ra nhanh hơn. Đó là những viễn cảnh được hai nhà khoa học Florian Sevellec – Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) và Sybren Drijfhout – Đại học Southampton (Vương quốc Anh) công bố trên Tạp chí Nature Communications mới đây.

Trong nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp PROCAST với số liệu thu được từ 10 mô hình khí hậu. Họ xem xét các yếu tố về điều kiện tự nhiên, những tác động của con người đối với sự gia tăng nhiệt độ của hành tinh. Kết quả phân tích từ các mô hình cho thấy, giai đoạn 2018-2022, 58% khả năng nhiệt độ tổng thể của Trái đất sẽ tăng bất thường; 69% khả năng có sự thay đổi mạnh mẽ đối với nhiệt độ các đại dương, trong đó dự báo nhiệt độ đại dương sẽ tăng tới 400% so với hiện nay.

Thực tế thì sự gia tăng nhiệt độ mạnh mẽ trong 5 năm tới đã bắt đầu. Các số liệu của Viện Nghiên cứu vũ trụ Goddard thuộc NASA cho thấy, năm 2018 nhiệt độ đã bắt đầu tăng cao và chỉ đứng thứ ba so với các mức kỷ lục từng ghi nhận được trong giai đoạn 1951- 1980. Trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5/2018, nhiệt độ Trái đất cao hơn 0,87oC so với mức nhiệt trung bình của giai đoạn trên.

Trái đất đang nóng lên nhưng không phải là nó sẽ ấm dần đều lên theo từng năm. Thay vào đó, có một xu hướng tăng nhiệt độ tổng thể với chu kỳ khoảng 10 năm. Điều này có nghĩa là, mỗi thập kỷ liên tiếp sẽ ấm hơn so với thập kỷ trước đó (tốc độ gia tăng nhiệt độ của Trái đất khoảng 0,17oC/thập kỷ).

Yếu tố quyết định đến nhiệt độ của Trái đất chính là sự “biến đổi nội tại”. Điều này khác xa so với những gì chúng ta thường nghĩ nguyên nhân ấm lên toàn cầu là do phát thải khí nhà kính. Quá trình biến đổi nội tại cũng có thể tác động làm giảm sự tăng nhiệt trong một vài năm riêng lẻ. Chẳng hạn như năm 2000, sự dao động nhiệt trong các đại dương đã làm cho quá trình tăng nhiệt của Trái đất diễn ra không quá lớn. Tuy nhiên, trong thời gian tới đây, yếu tố biến đổi nội lại sẽ làm cho quá trình nóng lên của Trái đất diễn ra nhanh hơn.

Những biến đổi nội tại trong hệ thống khí hậu có thể sẽ làm cho bề mặt Trái đất ấm hơn đáng kể so với những gì mà chúng ta từng nghĩ từ việc gia tăng khí nhà kính trong khí quyển. Đây là thông tin quan trọng và vô cùng hữu ích đối với các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách và xã hội. Sau bao cuộc thương thảo tưởng như không có hồi kết, cuối cùng chúng ta đưa ra ngưỡng tăng nhiệt của Trái đất là 2oC so với thời kỳ tiền công nghiệp. Nếu vượt ngưỡng này thì thảm họa có thể xảy ra, thậm chí kích hoạt nhiệt độ Trái đất gia tăng mạnh hơn nữa. Hans Joachim Schellnhuber – Viện Nghiên cứu tác động khí hậu Potsdam (Hà Lan) cảnh báo: “Trái đất có thể chuyển sang trạng thái mới cực đoan khi nhiệt độ vượt ngưỡng”.

Những mô hình thời tiết đang trở thành công cụ hiệu quả giúp chúng ta dự báo những biến đổi của khí hậu trong tương lai. Thật đáng buồn là những dự báo đưa ra đều không phải là tin tốt lành đối với nhân loại. Tuy nhiên, các chuyên gia đều nhận định giữ ngưỡng nhiệt độ 2oC mà Hiệp định về khí hậu Paris đưa ra là không khả quan. Với các mô hình khí hậu mà các tham số đầu vào là lượng khí phát thải ở mức hiện tại thì kết quả cho thấy nhiệt độ Trái đất có thể tăng 3,2-5,9oC. Đây thực sự là một tiếng chuông cảnh tỉnh nhân loại.

Theo Tạp chí KH&CN Việt Nam

Xanh hóa ngành dệt may: Cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập quốc tế

Dệt may là một trong những ngành quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, đóng góp 15% tổng giá trị xuất khẩu và có tốc độ tăng trưởng cao, trung bình đạt trên 12% từ năm 2010 tới 2017. Với hơn 6.000 nhà máy, cung cấp khoảng 3 triệu việc làm trên cả nước, ngành không chỉ quan trọng đối với nền kinh tế mà còn với xã hội Việt Nam.

Tuy nhiên, đây cũng là một ngành có thể gây ra nhiều tác động lên tới môi trường. Quá trình sản xuất của ngành sẽ phải khai thác, sử dụng và xả thải một lượng nước lớn, đồng thời sử dụng nhiều năng lượng cho việc đun nóng và tạo ra hơi nước. Đây chính là những yếu tố tác động lên nguồn nước và góp phần gia tăng khí phát thải nhà kính.

Tác động tới môi trường

Dệt may là một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu trọng điểm của cả nước. Năm 2017, ngành đã đạt 31,7 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu; năm 2018 dự kiến đạt từ 34 – 34,5 tỷ USD. Mặc dù vậy, đây cũng là một trong những ngành công nghiệp có mức độ phát thải khí nhà kính cao, sau ngành điện và nhiệt, nông nghiệp, giao thông đường bộ và sản xuất dầu khí.

Theo Hiệp hội Dệt May Việt Nam, trung bình mỗi năm, ngành dệt may Việt Nam đang phải chi khoảng 3 tỷ USD cho năng lượng sản xuất, đội giá thành sản xuất lên cao và trở thành một trong những điểm yếu của sản phẩm dệt may Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu là do doanh nghiệp (DN) dệt may trong nước có quy mô nhỏ và vừa, tiềm lực tài chính hạn chế nên vẫn duy trì hệ thống công nghệ sản xuất cũ, tiêu tốn nhiều năng lượng. Cơ cấu sử dụng năng lượng của DN Việt Nam cho thấy chủ yếu là sử dụng năng lượng điện (chiếm 70%), năng lượng hóa thạch (29%) và còn lại là năng lượng sinh khối. Quy trình kiểm soát năng lượng và tiết kiệm năng lượng (TKNL) chưa được các chủ DN quan tâm. Do vậy, cải tiến công nghệ sản xuất theo hướng xanh, sạch, giảm thiểu sử dụng năng lượng là giải pháp cần thiết để tăng năng lực cạnh tranh.

Không chỉ sử dụng nhiều năng lượng, ngành dệt may còn gây ô nhiễm nguồn nước do sử dụng chất hóa học độc hại. Để tạo ra các sản phẩm thời trang, nhiều DN đã đầu tư vào các nhà máy dệt, nhuộm. Các nhà máy dệt, nhuộm sử dụng rất nhiều loại hóa chất như axit, dung môi hữu cơ kiềm tính, thuốc nhuộm và chất màu, các hoạt chất bề mặt. Theo nghiên cứu, trong nước thải dệt nhuộm có cả những chất dễ phân giải vi sinh như bột sắn dùng hồ sợi dọc và những chất khó phân giải vi sinh như: Polyvinyl axetat, thuốc nhuộm phân tán, thuốc nhuộm hoạt tính và các chất dùng tẩy trắng vải. Với các loại vải càng sử dụng nhiều xơ sợi tổng hợp như polyester thì càng dùng nhiều thuốc nhộm và các chất hỗ trợ gây khó hoặc không phân giải vi sinh, dẫn tới lượng chất gây ô nhiễm môi trường trong nước thải càng cao.

Những cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập

Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào thế giới qua các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), các hiệp định thương mại tự do song phương. Dòng vốn FDI được dự báo là sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ và ngành may mặc sẽ là một trong những ngành được hưởng lợi. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới chuẩn bị có hiệu lực như CPTPP hay Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đều có quy định về cam kết BVMT, phát thải các bon thấp. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội, để DN hướng đến đầu tư công nghệ sản xuất hiện đại, sản xuất sạch hơn, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm khi xuất khẩu, tăng uy tín thương hiệu đối với người tiêu dùng trong nước.

Cải tiến công nghệ trong sản xuất đáp ứng yêu cầu về TKNL

Dệt may Việt Nam đang xuất khẩu sang 4 thị trường lớn là: Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và bắt đầu đẩy mạnh hàng hóa vào thị trường mới như Trung Quốc hay Nga. Từ tháng 3/2018, Việt Nam gia nhập CPTPP, mở ra cơ hội để tăng cường xuất khẩu vào những thị trường phi truyền thống như Canada và Ôxtrâylia. Tuy nhiên, sản phẩm dệt may Việt Nam đang chịu áp lực cạnh tranh lớn về giá thành, chi phí sản xuất và tiêu chuẩn an toàn môi trường, sức khỏe người lao động.

TKNL, giảm phát thải đang được coi là hàng rào thương mại lớn của ngành dệt may Việt Nam khi thâm nhập thị trường quốc tế. Hiện nay, một số thị trường lớn như: Mỹ, Liên minh châu Âu đang có quy định về dán nhãn các bon, trong đó, yêu cầu các nhà nhập khẩu phải đáp ứng yêu cầu về mức độ phát thải các bon trên dây chuyền công nghệ sản xuất ra sản phẩm dệt may. Các nghiên cứu cho thấy, ngành dệt may đang chiếm 11% tổng nhu cầu năng lượng trong các ngành kinh tế công nghiệp và phát thải khoảng 5 triệu tấn CO2. Công nghiệp dệt may của Việt Nam vẫn nằm trong nhóm nước có cường độ sử dụng năng lượng lớn nhất thế giới, bởi theo tính toán, cứ 1 đồng sản xuất phải mất 1 đồng cho chi phí năng lượng. Có đến gần 200 DN dệt may thuộc diện DN phát thải trọng điểm (tiêu thụ 1.000 tấn CO2 quy đổi). Hiện nay, đa số DN dệt may đã tiếp nhận yêu cầu dán nhãn các bon trên sản phẩm từ nhà nhập khẩu. Bên cạnh đó, nhiều thương hiệu lớn trên thế giới cũng bắt đầu ưu tiên lựa chọn những đối tác DN thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Để chủ động ứng phó rào cản kỹ thật ngày càng nghiêm ngặt, Nhà nước cần tạo điều kiện cho DN phối hợp với các nhà khoa học, tổ chức tín dụng để tiếp cận nguồn vốn, khoa học công nghệ về tiết kiệm điện năng; nhân rộng những mô hình TKNL hiệu quả. Các Bộ, ngành liên quan cần thiết phải xây dựng quy định tiêu chuẩn năng lượng tối thiểu cho từng lĩnh vực; hình thành tín chỉ thương mại về các bon; thị trường mua bán tín chỉ các bon; tiêu chuẩn hiệu suất… Đối với các DN cần phải thay đổi tư duy về TKNL trong giảm chi phí và hạ giá thành sản xuất, chủ động tiếp cận chính sách và các chương trình hỗ trợ phát thải thấp. Về lâu dài, cần có cơ chế hoạt động minh bạch cho các công ty dịch vụ năng lượng, công ty tìm kiếm giải pháp tài chính hỗ trợ DN triển khai giải pháp TKNL, từng bước hình thành quỹ quay vòng vốn cho DN.

Xanh hóa ngành dệt may

Trong thời gian qua, Hiệp hội Dệt May Việt Nam phối hợp với WWF – Tổ chức Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên triển khai một Dự án “Xanh hóa ngành dệt may Việt Nam thông qua cải thiện quản lý nước và năng lượng bền vững” nhằm thúc đẩy quản lý lưu vực sông tốt hơn, góp phần cải thiện chất lượng nguồn nước và sử dụng năng lượng bền vững. Dự án này là một phần của dự án “Thúc đẩy giảm thiểu tác động thông qua chuỗi cung ứng dệt may”, được tài trợ bởi HSBC, nhằm xanh hóa ngành dệt may tại Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ và Việt Nam.

Dự án sẽ được triển khai từ năm 2018 tới 2020 với mục tiêu là chuyển đổi ngành dệt may tại Việt Nam thông qua tham gia vào các chính sách quản lý ngành và môi trường để mang lại lợi ích xã hội, kinh tế và bảo tồn cho Việt Nam và toàn bộ khu vực sông Mê Công, nơi tập trung gần 50% nhà máy may mặc của cả nước. Trọng tâm chính của Dự án là cải thiện hiệu suất nước và năng lượng, từ đó giảm thiểu tác động của ngành lên tới môi trường. Dự án sẽ hợp tác với các DN để khuyến khích họ chủ động tham gia hơn vào công tác quản lý sông Mê Công, quy hoạch năng lượng bền vững và tạo cơ hội cho các DN này thảo luận về kế hoạch hành động chung nhằm đầu tư và phát triển ngành dệt may một cách bền vững.

Việt Nam cũng cam kết giảm phát thải nhà kính từ nay đến 2030. Do vậy, xanh hóa thành công ngành may mặc Việt Nam sẽ góp phần vào thực hiện mục tiêu về quản trị nguồn nước và sử dụng năng lượng hiệu quả. Sự ra đời của Dự án vào đúng thời điểm mà ngành công nghiệp dệt may đang cần củng cố hệ thống quản lý, nâng cao các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội. Cùng với đó, các DN cũng sẽ phải cải tiến công nghệ sản xuất theo hướng xanh, sạch, giảm thiểu sử dụng năng lượng để phù hợp với môi trường kinh doanh toàn cầu nếu không muốn mất đi khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Theo Lê Thị Hường/tapchimoitruong.vn