Làm sao để nhận biết các loại nhựa an toàn?

Để hạn chế rác thải nhựa, không ít người đã tận dụng các hộp nhựa, chai nhựa để đựng nước hay thực phẩm. Cách làm này liệu có an toàn cho sức khỏe?

Thông thường, dưới đáy các vật dụng bằng nhựa đều có ký hiệu tái chế, với các số từ 1 đến 7 và có các ký tự viết tắt như PETE, PP, PS,… Vì vậy, hãy dựa vào những ký hiệu này để biết được mức độ an toàn và chúng có thể tái chế được hay không. Từ đó có cách sử dụng hợp lý, an toàn cho sức khoẻ và góp phần bảo vệ môi trường.

Nhựa số 1 – PETE hoặc PET (Polyethylene Terephthalate):

Nhựa số 1 an toàn cho thực phẩm và rất dễ tái chế.

Nhựa số 1 an toàn cho thực phẩm và rất dễ tái chế. Bạn sẽ thấy ký hiệu số 1 ở đáy các chai nước ngọt, nước suối, dầu ăn, chai nước súc miệng, hoặc thực phẩm đóng hộp (bơ, nước sốt). Nhiều gia đình thường giữ các chai loại này lại để trữ nước lọc, nhưng ít ai chú ý đến bề mặt gồ ghề của chúng rất dễ tích tụ vi khuẩn. Điều này đồng nghĩa với độ an toàn vệ sinh thực phẩm sẽ giảm dần sau mỗi lần tái sử dụng.

Nhựa số 2 – HDPE (High Density Polyethylene):

Nhựa số 2 có màu đục, bề mặt trơn tru nên khó tích tụ vi khuẩn, ít bị thấm nước và được đánh giá an toàn với thực phẩm. Bạn sẽ tìm thấy ký hiệu của nhựa số 2 trên các bình sữa cho trẻ em, bình nước trái cây, hộp ngũ cốc, hộp sữa chua, chai chứa chất tẩy rửa, chai dầu động cơ, chai dầu gội,… Nhựa số 2 dễ tái chế thành các loại bút, bàn, ghế, hàng rào, và chai đựng chất tẩy rửa.

Nhựa số 3 – V hoặc PVC (Vinyl):

Nhựa PVC có giá thành rẻ, độ dẻo cao, dễ nóng chảy nên hiếm khi được dùng tái chế. Đặc biệt, trong PVC có chứa một số chất độc như Phthalat, DEHA có thể gây hại nghiêm trọng đến sức khoẻ người dùng. Vì thế, chúng ta tuyệt đối không dùng các sản phẩm làm từ PVC để đựng thực phẩm nóng, đun nấu và đốt.

Nhựa số 3 được sử dụng để làm màng bọc thực phẩm, áo mưa, thiết bị y tế, vật liệu xây dựng (ống nước, vỏ bọc dây điện), và một số loại chai, hộp. Nhiều hãng sản xuất trên thế giới đã tẩy chay PVC, nhưng trên thị trường vẫn xuất hiện đồ chơi trẻ em làm bằng loại nhựa này, do đó các bậc phụ huynh cần lưu tâm đến chất liệu khi lựa chọn đồ chơi cho con mình.

Nhựa số 4 – LDPE (Low Density Polyethylene):

Nhựa số 4 thường được dùng để sản xuất các loại túi nhựa, các loại chai có thể ép, quần áo, thảm, giấy gói thực phẩm, hộp đựng thực phẩm,… Tuy LDPE được cho là an toàn với sức khoẻ nhưng nó lại không được dùng để tái chế.

Nhận biết loại nhựa an toàn cho sức khoẻ bằng những con số dưới đáy hộp

Nhựa số 5 – PP (Polypropylene):

PP được xem là người bạn thân thiện với con người và môi trường vì nó an toàn với thực phẩm và rất dễ tái chế. Hộp sữa chua, chai đựng nước lọc, lọ đựng thuốc, chai đựng nước si rô hoặc nước sốt cà chua, tương ớt, ống hút, chai thuốc… đều được sản xuất từ nhựa số 5.

Nhựa PP có khả năng chịu nhiệt lên đến 130°C và được cho là có thể sử dụng trong lò vi sóng nếu bạn kiểm soát được nhiệt độ an toàn, tránh thôi nhiễm chất độc ra thức ăn. PP thường được tái chế thành chổi, thùng rác, tấm ván, các đèn tín hiệu, kệ tủ,…

Nhựa số 6 – PS (Polystyrene):

Nhựa số 6 thường thấy ở các loại hộp, chén, dĩa dùng một lần . Khi sử dụng những sản phẩm này, chúng ta không nên đựng thực phẩm nóng, thực phẩm có chất kiềm và acid mạnh, vì PS sẽ bị phân giải gây hại cho cơ thể.

Nhựa PS, cũng như các sản phẩm làm từ PS không được ủng hộ sử dụng vì rất khó tái chế và có hại cho môi trường.

Nhựa số 7 – Các hợp chất khác:

Sản phẩm có ký hiệu số 7 là tập hợp của các chất không thuộc 6 loại kể trên. Polycarbonat (PC) được sử dụng nhiều trong nhựa số 7 và có khả năng gây hại nghiêm trọng đến sức khoẻ con người. Mặc dù trên thị trường rất hiếm gặp các loại hộp đựng thực phẩm và đồ gia dụng làm từ nhựa số 7, nhưng mọi người cần lưu ý khi chọn mua. Bên cạnh đó, hầu hết các chương trình tái chế đều không chấp nhận loại nhựa này.

VNCPC (tổng hợp)

Hạt vi nhựa nguy hiểm như thế nào?

Ô nhiễm hạt vi nhựa hiện giờ không chỉ là cảnh báo mà đã tác động tới từng cá nhân. Vậy hạt vi nhựa nguy hiểm như thế nào hãy cùng tìm hiểu nhé.

Mỗi người nuốt vào bụng ít nhất 50.000 hạt vi nhựa/năm

Hạt vi nhựa là những mẫu nhựa có kích thước nhỏ hơn 5 mm. Ô nhiễm hạt vi nhựa được gây ra chủ yếu do sự phân hủy rác thải nhựa và tình trạng này đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy hạt vi nhựa ở trong không khí, đất, sông hồ và kể cả những vùng biển sâu nhất trên thế giới.

Các hạt vi nhựa cũng được tìm thấy trong nước máy, nước đóng chai, hải sản và bia. Chúng cũng được tìm thấy trong các mẫu phân người lần đầu vào tháng 10/2018 – bằng chứng cho thấy con người đã ăn phải hạt vi nhựa.

Nghiên cứu này được đăng tải trên tạp chí Journal of Environmental Science and Technology (Mỹ), lấy dữ liệu từ 26 nghiên cứu trước đó đã đo lượng hạt vi nhựa trong cá, động vật có vỏ, đường, muối, bia và nước, cũng như không khí trong các thành phố lớn.

Các hạt vi nhựa được tìm thấy trong tinh thể muối.

Các nhà khoa học đã sử dụng chế độ ăn uống do Chính phủ Mỹ quy định nhằm tính toán lượng hạt vi nhựa con người ăn phải trong 1 năm. Ước tính trung bình người lớn ăn khoảng 50.000 hạt vi nhựa mỗi năm, còn trẻ em là 40.000.

Thực tế, phần lớn thực phẩm và nước uống vẫn chưa được kiểm tra, và nghiên cứu trên chỉ mới ước tính 15% lượng calorie mà con người tiêu thụ.

“Con số có thể lớn hơn nhiều. Vẫn còn một lượng dữ liệu khổng lồ cần được bổ sung” – ông Kieran Cox, trưởng nhóm nghiên cứu tại Đại học Victoria (Canada), nhìn nhận.

Những thực phẩm khác như bánh mì, thực phẩm chế biến, thịt, sản phẩm bơ sữa và rau quả cũng có thể chứa các hạt vi nhựa, nhà nghiên cứu Kieran Cox cho biết. “Khả năng cao là sẽ có rất nhiều hạt vi nhựa trong các thực phẩm này. Con số có thể lên đến hàng trăm ngàn”.

Hạt vi nhựa trong thực phẩm ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe con người?

Theo PGS-TS Nguyễn Huy Nga, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý Môi trường Y tế (Bộ Y tế): Mới đây nhất, các nhà khoa học phát hiện các hạt nhựa siêu nhỏ có thể xâm nhập vào mạch máu, hệ bạch huyết, thậm chí tới gan. Đã có tổng cộng 9 loại hạt nhựa được phát hiện trong cơ thể người, phổ biến nhất là nhựa PP và nhựa PET thường thấy trong bao bì đồ ăn, thức uống. Điều đáng nói là cứ một hạt vi nhựa vỡ ra, nó sẽ sản sinh ra rất nhiều chất độc gây nguy hiểm trực tiếp đến sức khỏe con người. Khi đó, chúng ta có thể bị mất cân bằng hormone dẫn đến các căn bệnh về thần kinh, các bệnh hô hấp, ảnh hưởng đến cấu trúc não bộ, gây tăng động, suy yếu và biến đổi hệ miễn dịch cùng hàng loạt những nguy cơ khác.

Tuy nhiên, hiện nay các bằng chứng khoa học vẫn chưa đủ thuyết phục để đề xuất các quy định về giới hạn cho phép hàm lượng các vi nhựa trong nước và thực phẩm. Việc này đòi hỏi cần có sự đầu tư cho các nghiên cứu tiếp theo về ảnh hưởng của vi nhựa và nano nhựa lên sức khỏe con người.

Con người cần làm gì để tránh hấp thụ hạt vi nhựa?

Tính đến thời điểm này, tại nhiều quốc gia đã có lệnh cấm đối với đồ nhựa sử dụng 1 lần bởi những lo ngại rằng hóa chất trong nhựa sẽ gây ra các bệnh ngộ độc, vô sinh hay gián đoạn di truyền cho cả con người và sinh vật biển.

Việc cần làm ngay bây giờ là hạn chế sử dụng các sản phẩm chứa hạt vi nhựa trong chăm sóc cá nhân, từ bỏ thói quen sử dụng túi nylon, các chai nhựa, cốc, ống hút một lần.

Tại Việt Nam, trong khi chờ đợi các quy định cụ thể, việc cần làm ngay bây giờ là hạn chế sử dụng các sản phẩm chứa hạt vi nhựa trong chăm sóc cá nhân, từ bỏ thói quen sử dụng túi nylon, các chai nhựa, cốc, ống hút một lần.

Các chuyên gia cũng khuyến cáo, cần có một chế tài đủ mạnh để việc phân loại rác nhựa tại nguồn hay tại các địa điểm công cộng được thực hiện quy củ hơn. Hạn chế tối đa việc xả thải nhựa trực tiếp ra môi trường biển là cách tốt nhất để ngăn chặn hiểm họa ô nhiễm môi trường và bảo vệ tốt cho sức khỏe con người.

VNCPC (tổng hợp)

Bộ nào chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về chất thải rắn?

Mới đây, Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) là đầu mối quản lý nhà nước về chất thải rắn.

Sau nhiều năm trong tình trạng bảy bộ cùng quản lý chất thải rắn, gây chồng chéo, kém hiệu quả, Nghị quyết số 09 của Chính phủ đã thống nhất giao Bộ TN&MT đầu mối, thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn. Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về vấn đề rác thải và xử lý rác thải trên địa bàn.

Sáng 8/5 tại Bộ TN&MT diễn ra Hội thảo quản lý Nhà nước về chất thải rắn. Ông Nguyễn Hưng Thịnh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ TN&MT nêu thực trạng, có tới 7 bộ cùng quản lý chất thải rắn trong nhiều năm qua. Ngoài Bộ TN&MT còn có Bộ Xây dựng, quản lý chất thải từ hoạt động xây dựng và chất thải rắn sinh hoạt.

​Bộ Y tế phụ trách hoạt động bảo vệ môi trường trong hoạt động y tế. Bộ KH&CN quản lý nhiên liệu hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, chất thải phóng xạ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý chất thải trong nông nghiệp.

Bộ Giao thông Vận tải có chức năng quy định chi tiết chất thải nguy hại, chất thải rắn phát sinh từ hoạt động GTVT. Bộ Công thương ban hành Thông tư về quản lý môi trường trong lĩnh vực công thương.

Thứ trưởng Bộ TN&MT Võ Tuấn Nhân chia sẻ, việc quản lý chất thải rắn còn phân công quản lý từng công đoạn cho các bộ, ngành khác nhau, thiếu thống nhất từ trung ương đến địa phương.

Chất thải rắn thực sự là vấn đề lớn đối với môi trường.

Theo ông Đồng Phước An, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội. Quy định của Nghị định 38 của Chính phủ giao UBND các tỉnh, thành phố chủ động phân công các sở, ngành quản lý chất thải rắn. Mỗi địa phương giao cho một sở, ngành khác nhau dẫn đến thiếu thống nhất.

Ông An chia sẻ, đã có giai đoạn tại Hà Nội, việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở các quận giao cho Sở Xây dựng, các huyện giao cho Sở TN&MT, vừa rồi tạm thống nhất giao cho một đầu mối là Sở Xây dựng. Ông An kiến nghị nên giao cho Sở TN&MT là đầu mối quản lý nhà nước về chất thải rắn.

“Sở TN&MT có cả Chi cục Bảo vệ Môi trường, còn Sở Xây dựng chỉ có một Phòng Quản lý Hạ tầng kỹ thuật. Phòng này quản lý tới 5 lĩnh vực là rác thải sinh hoạt, cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, cây xanh. Bộ phận giao làm quản lý chất thải rắn chỉ có 3 đồng chí cán bộ”, ông An nêu thực tế.

Theo bà Đỗ Thị Hương, Phó chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường Hải Phòng chia sẻ, ngoài chất thải nguy hại và chất thải công nghiệp thông thường được giao cho ngành Tài nguyên và Môi trường quản lý, các chất thải còn lại đang rất chồng chéo, khó khăn trong quản lý, nhất là quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn.

Chất thải rắn nông thôn giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhưng năng lực của cán bộ cũng là vấn đề. Khi phân cấp tới cấp huyện, một số huyện giao cho Phòng Môi trường, một số huyện giao cho Phòng Nông nghiệp.

Để giải quyết tình trạng này, bà Hương kiến nghị cần sửa đổi Luật bảo vệ môi trường, đảm bảo thống nhất với các Luật thuộc lĩnh vực xây dựng, đấu thầu, thực hiện sửa đổi chức năng của các bộ, cơ quan ngang bộ để đảm bảo thống nhất quản lý, tránh chồng chéo như hiện nay.

Trước đó, Nghị quyết số 09 ngày 3/2/2019 của Chính phủ đã thống nhất giao Bộ TN&MT đầu mối, thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn. Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về vấn đề rác thải và xử lý rác thải trên địa bàn. Tuy nhiên, để có thể thống nhất quản lý, vẫn còn nhiều việc làm trước mắt.

Bộ TN&MT cho biết, để thực hiện Nghị quyết 09, Bộ đang tiến hành rà soát các bất cập về cơ chế chính sách, đề xuất hướng sửa đổi phù hợp. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành kế hoạch và đang tích cực triển khai các nhiệm vụ nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về CTR, trong đó tập trung đánh giá tình hình thực hiện các chiến lược, kế hoạch về CTR; tổ chức kiểm tra, đánh giá thực trạng công tác quản lý CTR trên phạm vi cả nước; chuẩn bị nội dung để tổ chức Hội nghị toàn quốc về CTR. Bộ cũng đang xây dựng các Đề án tăng cường năng lực quản lý CTR tại Việt Nam, tăng cường quản lý rác thải nhựa ở Việt Nam.

Theo Hùng Linh/scp.gov.vn

5 lý do sản xuất xanh nên được khuyến khích

Rất nhiều những doanh nghiệp đã và đang hướng tới sản xuất xanh, một kiểu sản xuất thân thiện hơn với môi trường, không gây ô nhiễm môi trường và đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng. Vậy tại sao nên khuyến khích sản xuất xanh?

Bảo vệ môi trường

Lý do được ưu tiên hàng đầu để lựa chọn sản xuất xanh chính là bảo vệ môi trường. Môi trường sống của chúng ta đang ngày càng chịu ảnh hưởng nặng nề của khói bụi và các chất thải độc hại. Các nhà máy và các khu công nghiệp càng nhiều khiến khói bụi khắp nơi trong không gian sống. Việc áp dụng công nghệ xanh vào quy trình sản xuất sẽ giúp các doanh nghiệp hạn chế hậu quả về ô nhiễm môi trường. Chẳng hạn tập đoàn Ford đã áp dụng quy trình sản xuất xanh như sử dụng các nguyên liệu tái chế nhằm giảm thiểu tác hại của ô nhiễm môi trường. Ford còn cho sản xuất những dòng xe thân thiện với môi trường.

Tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp

Không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà sản xuất xanh còn giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sản xuất. Sản xuất xanh xuất phát từ những điều đơn giản nhất. Chẳng hạn chi phí cho dây chuyền sản xuất và các thiết bị trong các nhà máy là không hề nhỏ, nhưng nếu chúng ta sử dụng các thiết bị tiết kiệm điện năng, tiết kiệm nhiên liệu hơn thì vừa đảm bảo môi tường vừa tiết kiệm đáng kể cho nhà máy. Hơn nữa, nếu ngay từ đầu áp dụng sản xuất xanh, các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm chi phí xử lý rác thải rất lớn sau khi sản xuất.

Nhu cầu thị trường

Sản xuất xanh đang cần được khuyến khích còn do nhu cầu thị trường tiêu dùng. Mọi người cũng đã ý thức được tầm quan trọng của môi trường sống và sức khỏe bản thân, chính vì vậy họ quan tâm đến các sản phẩm xanh, sạch, thân thiện với môi trường và an toàn cho sức khỏe. Người tiêu dùng có xu hướng tìm mua và sử dụng các sản phẩm sạch hoặc các vật dụng có nguồn gốc thiên nhiên, thân thiện môi trường. Do đó, các công ty và doanh nghiệp cần hướng tới nhu cầu này để áp dụng vào dây chuyền sản xuất.

Phát triển bền vững

Chính vì tiết kiệm chi phí và nhu cầu thị trường cao nên các doanh nghiệp sẽ ngày càng phát triển bền vững. Tiết kiệm chi phí trong sản xuất giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư vào các mảng cần thiết khác như quảng bá sản phẩm. Với sản phẩm xanh, người tiêu dùng sẽ ưa chuộng và sử dụng nhiều hơn, tạo ra sự tăng trưởng đáng kể cho doanh thu của doanh nghiệp, duy trì hoạt động doanh nghiệp ổn định.

Hội nhập xu hướng quốc tế

Các doanh nghiệp lớn ở các nước trên thế giới cũng đã áp dụng sản xuất xanh vào quy trình của doanh nghiệp từ trước chúng ta. Đây là xu hướng mới của các nước tiên tiến nói riêng và của thế giới nói chung, chính vì thế nếu chúng ta muốn hội nhập với nền kinh tế thế giới thì nên áp dụng sản xuất xanh vào quá trình sản xuất. Đây là chiến lược đúng đắn mà nền kinh tế Việt Nam cần hướng tới.

Như vậy, để tạo nên một môi trường sống sạch đẹp thì các doanh nghiệp cần cải tiến sản xuất với môi hình sản xuất xanh. Hy vọng nền kinh tế Việt Nam sẽ trở thành nền kinh tế xanh trong tương lai.

Theo Kinhtevadubao.vn

Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy

Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (tiếng Anh: Stockholm Convention on Persistent Organic Pollutants) là hiệp ước quốc tế về môi trường, được ký vào năm 2001 và có hiệu lực kể từ tháng 5 năm 2004.

Công ước Stockholm có mục đích loại bỏ hoặc hạn chế sản xuất và sử dụng các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (persistent organic pollutant – POP).

Năm 1995, Hội đồng điều hành Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) lên tiếng kêu gọi hành động mang tính toàn cầu để đối phó với POP – những chất hóa học được định nghĩa là “khó phân hủy trong môi trường, tích tụ sinh học qua lưới thức ăn và gây nguy cơ tác động có hại cho sức khỏe con người và môi trường.”

Sau lời kêu gọi này, Diễn đàn liên chính phủ về An toàn hóa chất (Intergovernmental Forum on Chemical Safety – IFCS) và Chương trình quốc tế về An toàn hóa chất (International Programme on Chemical Safety – IPCS) đã chuẩn bị một bản đánh giá 12 hóa chất được xem là gây hại nhiều nhất.

Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Stockholm vào ngày 22/7/2002.

Từ tháng 6/1998 đến tháng 12/2000, năm cuộc họp diễn ra để sửa soạn cho Công ước mới. Ngày 22-23 tháng 5/2011, các phái đoàn đến dự hội nghị (tập hợp các đại diện toàn quyền) diễn ra ở Stockholm, Thụy Điển đã thông qua Công ước về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy. Những cuộc thương thảo cũng hoàn tất vào ngày 23/5. Công ước có hiệu lực kể từ ngày 17/5/2004 với sự phê chuẩn ban đầu của 151 bên ký kết. Họ tán thành loại bỏ chín trong số 12 hóa chất được đề xuất, giới hạn sử dụng chất DDT trong công tác kiểm soát sốt rét và cắt giảm việc vô ý tạo ra chất điôxin và furan.

Các bên tham gia cũng đồng ý với quy trình xem xét và bổ sung các hợp chất độc hại khó phân hủy khác vào Công ước nếu chúng thỏa các tiêu chí về mức độ khó phân hủy và mức gây hại đến nhiều quốc gia. Danh sách bổ sung lần đầu được tán thành tại cuộc họp diễn ra ở Genève, Thụy Sĩ vào ngày 8/5/2009.

Tính đến tháng 5/2013, có 179 bên đã tham gia Công ước Stockholm (gồm 178 quốc gia và Liên minh châu Âu). Song vẫn có một số nước chưa phê chuẩn Công ước, chẳng hạn Hoa Kỳ, Israel, Iraq, Italia và Malaysia.

Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Stockholm vào ngày 22/7/2002.

Tóm tắt các điều khoản

Nội dung chính của Công ước là việc yêu cầu các nước phát triển phải cung cấp mới cũng như bổ sung các nguồn tài chính và biện pháp nhằm xóa bỏ hoạt động sản xuất và sử dụng các POP, xóa bỏ việc vô ý tạo ra các POP nếu được, quản lý và tiêu hủy chất thải POP theo cách an toàn cho môi trường. Công ước cũng dự liệu việc bổ sung các chất mới vào danh sách thông qua việc ghi chú trong phần mở đầu.

Ủy ban Xem xét Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy

Công ước có điều khoản về quy trình nhận diện các POP để bổ sung vào Công ước và tiêu chí để xem xét đánh giá theo. Lần họp thứ nhất của Hội nghị các bên (COP1) diễn ra ở Punta del Este, Uruguay từ ngày 2-6/5/2005 đã lập ra Ủy ban Xem xét Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (Persistent Organic Pollutants Review Committee – POPRC) với nhiệm vụ cân nhắc bổ sung các POP khác vào Công ước.

Thành phần Ủy ban này gồm 31 chuyên gia được các bên tham gia Công ước đề cử, lấy từ năm nhóm vùng thuộc Liên Hiệp Quốc. Ủy ban sẽ xem xét bổ sung chất mới theo ba giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất, Ủy ban xác định xem liệu chất đó có thỏa các tiêu chí được ghi trong phụ lục D của Công ước hay không (gồm tính khó phân hủy, tính tích tụ sinh học, tiềm năng lan truyền quy mô rộng trong môi trường – LRET, và độc tính). Nếu thấy thỏa mãn, Ủy ban sẽ thảo ra hồ sơ nháp về nguy cơ của chất đó theo phụ lục E nhằm đánh giá chất đó có nguy cơ gây tổn hại đáng kể đối với sức khỏe con người và/hoặc gây tác động môi trường hay không, từ đó cần hành động trên quy mô toàn cầu hay không.

Cuối cùng, nếu Ủy ban nhận thấy cần thiết phải có hành động toàn cầu thì họ sẽ lập bản đánh giá quản lý rủi ro theo phụ lục F nhằm phản ánh các đánh giá về kinh tế – xã hội song hành cùng việc nêu ra các biện pháp có thể có để kiểm soát chất đó. Dựa trên bản đánh giá này, Ủy ban ra quyết định khuyến nghị liệt kê bổ sung chất đó vào một hay nhiều phụ lục của Công ước. Ủy ban này đều tổ chức họp hàng năm ở Genève tính từ khi thành lập đến nay.

VNCPC

Nghị định thư Kyoto là gì?

Nghị định thư Kyoto là một thỏa thuận về việc cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, gắn liền với Chương trình Khung Liên hiệp quốc về Biến đổi Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change – UNFCCC).

Nghị định thư buộc các nước tham gia phải cam kết đạt được các mục tiêu về thải khí nhà kính được xác định cụ thể cho từng nước. Nghị định thư được hoàn tất và mở ký vào ngày 11/12/1997 tại Kyoto, Nhật Bản. Nghị định thư quy định trước khi có hiệu lực Nghị định thư phải được phê chuẩn bởi ít nhất 55 quốc gia và các quốc gia này phải chịu trách nhiệm ít nhất đối với 55% tổng lượng khí thải toàn cầu. Các điều kiện này đã được thỏa mãn khi Liên bang Nga phê chuẩn Nghị định thư. Vì vậy, Nghị định thư chính thức bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16/02/2005. Tính đến tháng 02/2009, đã có 184 quốc gia tham gia vào Nghị định thư Kyoto. Việt Nam ký Nghị định thư vào ngày 03/12/1998 và phê chuẩn vào ngày 25/9/2002.

Nội dung chính của Nghị định thư Kyoto là đưa ra các mục tiêu mang tính bắt buộc đối với 37 nước công nghiệp trên thế giới và Liên minh Châu Âu (EU) về việc giảm lượng khí thải nhà kính. Theo đó, các nước này đến năm 2012 phải giảm lượng phát thải khí nhà kính, chủ yếu là carbon dioxide, ít nhất 5% so với mức phát thải năm 1990. Mức giảm cụ thể áp dụng cho từng quốc gia thay đổi khác nhau. Ví dụ, các nước EU là 8%, Mỹ 7%, Nhật Bản 6%, Australia 8%, trong khi New Zealand, Nga và Ucraina được duy trì mức phát thải hiện tại. Riêng một số quốc gia vốn có lượng phát thải khí nhà kính thấp được phép tăng lượng phát thải, như Na Uy được tăng 1% hay Iceland 10%.

Việt Nam ký Nghị định thư vào ngày 03/12/1998 và phê chuẩn vào ngày 25/9/2002.

Các nước tham gia vào Nghị định thư Kyoto phải chịu sự giám sát và quản lý bởi các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc về lượng khí thải cắt giảm. Các quốc gia được chia làm hai nhóm: nhóm các nước phát triển thuộc Phụ lục I của Nghị định thư, buộc phải có bản đệ trình thường niên về các hành động cắt giảm khí thải; và nhóm các nước đang phát triển nằm ngoài Phụ lục I của Nghị định thư, bao gồm đa số các nước đang phát triển và cả một số nền kinh tế lớn mới nổi như Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil. Những nước này ít chịu ràng buộc hơn so với các nước thuộc nhóm Annex I.

Nghị định thư Kyoto yêu cầu các quốc gia tham gia cam kết thực hiện các mục tiêu nêu trên thông qua ba cơ chế chính được đưa ra trong Hiệp định Marrakesh (Marrakesh Accord) được thông qua năm 2001, bao gồm (1) Cơ chế thị trường khí thải, hay còn gọi là thương mại khí thải; (2) Cơ chế phát triển sạch; và (3) Cơ chế đồng thực hiện.

Theo đó, thông qua cơ chế thị trường khí thải, các quốc gia có hạn ngạch phát thải dư thừa có thể bán hạn ngạch này cho những nước có lượng phát thải vượt mức cho phép. Cơ chế phát triển sạch cho phép các quốc gia phát triển tài trợ cho các dự án giúp giảm lượng phát thải tại các nước đang phát triển, qua đó các nước tài trợ sẽ được gia tăng lượng hạn ngạch phát thải ở nước mình. Đây được xem như một công cụ hiệu quả nhằm giúp các nước đang phát triển tham gia vào Nghị định thư Kyoto, giúp nâng cao năng lực công nghệ ở các quốc gia này, đồng thời giải quyết được bài toán lợi ích giữa kinh tế và môi trường tại các quốc gia phát triển. Tương tự, cơ chế đồng thực hiện cũng cho phép một quốc gia thành viên tự thực hiện một dự án ở một quốc gia thành viên khác và qua đó giành được thêm hạn ngạch phát thải ở nước mình.

Nghị định thư Kyoto cũng được cho là một trong những tiền đề hình thành nên khái niệm “ngoại giao khí hậu”, vốn xuất hiện trong khoảng 7 đến 8 năm trở lại đây, khi các diễn biễn phức tạp của khí hậu cùng các hệ quả của nó gây ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ quốc tế. Những quốc gia công nghiệp và các nước phát triển được cho là “thủ phạm” chính gây ra sự biến đổi khí hậu (đứng đầu là Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản), tuy nhiên lại không phải là những nước gánh chịu hậu quả nặng nề nhất, mà lại là các quốc gia đang phát triển. Các nước phát triển dù cam kết đi đầu trong việc cắt giảm lượng khí thải nhà kính theo Nghị định thư, nhưng thực tế lại tìm nhiều cách lảng tránh vấn đề như trì hoãn phê chuẩn, thực hiện, đưa những dây chuyền công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm sang các nước đang phát triển.

Đặc biệt, Mỹ là quốc gia công nghiệp chiếm đến 25% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên thế giới nhưng lại không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vì cho rằng điều này sẽ gây thiệt hại đối với kinh tế Mỹ. Thay vào đó, chính phủ Mỹ năm 2001 đã cam kết sẽ thực thi kế hoạch của Tổng thống George W. Bush về tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng trong 10 năm (2002-2012), đưa nồng độ carbon trong các ngành công nghiệp Mỹ giảm 18%.

Biến đổi khí hậu hiện nay được xếp vào hàng “an ninh phi truyền thống”, được dự báo là có thể trở thành thách thức lớn nhất với hòa bình và an ninh thế giới, hơn cả chủ nghĩa khủng bố. Hậu quả của biến đổi khí hậu (các thảm họa thiên nhiên, các vấn đề môi trường…) có thể làm thay đổi nguồn phân bổ tài nguyên, dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực, an ninh năng lượng và làm bùng nổ các làn sóng di cư, gây xung đột và làm bất ổn chính trị xã hội.

Từ năm 2009, Liên Hiệp Quốc cùng các nhà lãnh đạo thế giới đã gia tăng hợp tác và bàn thảo một thỏa thuận môi trường thay thế Nghị định thư Kyoto (sẽ hết hiệu lực vào năm 2012). Tuy nhiên, trải qua không ít các vòng đàm phán liên tiếp, các nước vẫn chưa đi đến một sự đồng thuận nào về vấn đề này, do còn nhiều khác biệt về lợi ích (đặc biệt là xung đột lơi ích giữa môi trường và kinh tế) giữa các quốc gia.

VNCPC