Toạ đàm về Sản xuất sạch hơn và Định hướng phát triển Công nghiệp xanh với đoàn nghiên cứu thực tế của CHDCLB Ethiopia

Ngày 15/5/2007, Cục Kiểm lâm Hoa Kỳ (The US Forest Service) phối hợp với Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) đã tổ chức tiếp đón đoàn đại biểu cấp Bộ của nước Cộng hoà Dân chủ Liên bang Ethiopia và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn triển khai Sản xuất sạch hơn và định hướng phát triển Công nghiệp xanh.

Nằm trong khuôn khổ chuyến đi nghiên cứu thực tiễn của đoàn đại biểu cấp Bộ nước Cộng hòa Dân chủ Liên bang Ethiopia gồm Bộ  Môi trường, Lâm nghiệp và Biến đổi khí hậu (MEFCC), Bộ Công nghiệp (MOI) và Tổng Công ty Phát triển Khu Công nghiệp (IPDC) từ 15 – 19/5 tại Việt Nam, ngày 15/5, đoàn đã có buổi tọa đàm học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với VNCPC và đại diện Bộ Công Thương Việt Nam.

Đại diện trường Đại học Bách Khoa HN, đơn vị chủ nhà buổi tọa đàm, PGS. Nguyễn Phú Khánh, Trưởng phòng HTQT đã có bài chào mừng đoàn và chia sẻ quan điểm của Nhà trường về định hướng phát triển bền vững và công nghiệp xanh.

Ethiopia cũng như Việt Nam được xem là một trong số những quốc gia nhạy cảm nhất với biến đổi khí hậu trên thế giới. Chính vì vậy, với mong muốn học tập thực tế về mô hình phát triển công nghiệp xanh, đoàn đã được nghe các bài tham luận về kinh nghiệm triển khai Sản xuất sạch hơn ở Việt Nam, thực tiếp cận chuỗi giá trị bền vững sản phẩm cá tra (SUPA), cơ chế hỗ trợ tài chính cho đầu tư công nghệ thân thiện hơn với môi trường (GCTF) và đặc biệt là chiến lược Sản xuất sạch của Việt Nam tới năm 2020 cũng như kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh 2015 – 2020 của ngành Công Thương Việt Nam. Đáp lại những thông tin chia sẻ từ phía Việt Nam thông qua các diễn giả là ông Chu Văn Giáp (Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương), bà Kiều Nguyễn Việt Hà (Văn phòng giúp việc Ban Điều hành Chiến lược SXSH trong Công nghiệp), ông Trần Văn Nhân, ông Lê Xuân Thịnh và bà Nguyễn Lê Hằng (VNCPC), các thành viên của đoàn Ethiopia cũng đã giới thiệu về Chiến lược Nền kinh tế xanh phục hồi khí hậu (Ethiopia’s Climate Resilient Green Economy) với tiếp cận theo ngành trong cách thức triển khai.

Trong khuôn khổ hoạt động chuyên sâu về xúc tiến nâng cao hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn, cũng như xây dựng các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ bền vững ở Việt Nam, VNCPC luôn chú trọng kết nối mạng lưới với các bên liên quan hoạt động trong cùng lĩnh vực và hỗ trợ lẫn nhau, để góp phần tích cực trong sự nghiệp xanh hóa nền sản xuất công nghiệp, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển nền kinh tế xanh, hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước.

PGS. Nguyễn Phú Khánh, Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế trường Đại học Bách Khoa Hà Nội chào mừng đoàn.

Các đại diện từ Bộ Công Thương và VNCPC đang trao đổi kinh nghiệm với đoàn

Đoàn đại biểu Ethiopia và Cục Kiểm lâm Hoa Kỳ chụp ảnh lưu niệm với VNCPC

Admin VNCPC

Phụ phẩm trong nông nghiệp là một tài nguyên

Nhiều người dân, doanh nghiệp vẫn xem nguồn phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp là rác thải nên bỏ đi, gây ô nhiễm môi trường, trong khi chúng có thể là một nguồn tài nguyên giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào.

Hội thảo “Hướng đến chuỗi giá trị lúa gạo bền vững ở ĐBSCL” (Nguồn: VNCPC)

Đó là một phần nội dung được đưa ra tại Hội thảo hướng đến hệ sinh thái công-nông nghiệp bền vững, tập trung vào chuỗi giá trị lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long, do Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO), Công ty TNHH Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC), Trường đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức ngày 3-3-2017 tại TPHCM.

Theo ông Miroslav Delporte – Cục Kinh tế hợp tác của Thụy Sĩ (SECO) – đơn vị tài trợ cho dự án Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì một nền sản xuất các-bon thấp – hiện tại, trong các lĩnh vực nông nghiệp, ngành chế biến lúa gạo của Việt Nam là một mắt xích rất cần những cải tiến để nâng cao hiệu quả sử dụng, đặc biệt là vấn đề giảm thải khí thải thông qua ứng dụng những công nghệ tiên tiến.

Ông Martin Fritsh, một chuyên gia của dự án, cho rằng sản xuất sạch hơn là kiểm soát quy trình tốt hơn và làm sao có thể thu hồi được phụ phẩm.

Theo SECO, trong bốn năm thực hiện dự án trên, các bên có liên quan đã chứng minh được những phụ phẩm trong nông nghiệp là một nguồn tài nguyên. Các chuyên gia phát hiện ra rằng, có rất nhiều nhà máy xay xát lúa gạo đã lãng phí rất nhiều điện năng. Điều này làm cho giá thành một tấn gạo thành phẩm cao hơn. Vấn đề này có thể khắc phục được nếu những người đứng đầu các doanh nghiệp muốn tận dụng phụ phẩm để giảm thiểu chi phí đầu vào.

Dự án đã thực hiện đánh giá hiệu quản tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP) cho 16 nhà máy chế biến gạo và 10 công ty chế biến cà phê, giúp tiết kiệm gần 1,1 triệu kWh điện/năm, tương đương 80.000 đô la Mỹ, cắt giảm  621 tấn CO2/năm. Qua đó, giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng lúa gạo, đặc biệt trong bối cảnh, xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam đang gặp khó về thị trường như hiện nay.

Theo thesaigontimes.vn

Gia tăng giá trị lúa gạo nhờ sản xuất sạch hơn

Hội thảo “Hướng đến chuỗi giá trị lúa gạo bền vững ở ĐBSCL” trong khuôn khổ Dự án “Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì một nền sản xuất các-bon thấp”.

Hội thảo “Hướng đến chuỗi giá trị lúa gạo bền vững ở ĐBSCL” (Nguồn: VNCPC)

Hội thảo “Hướng đến chuỗi giá trị lúa gạo bền vững ở ĐBSCL” trong khuôn khổ Dự án “Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì một nền sản xuất các-bon thấp”, do Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO) và Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) tổ chức mới đây, đã cho thấy những tiềm năng gia tăng giá trị lúa gạo khi áp dụng sản xuất sạch hơn.

Tiết kiệm hơn 1 triệu kWh điện/năm

Trong 4 năm qua, Dự án “Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì một nền sản xuất các-bon thấp” do Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO) tài trợ đã thực hiện đánh giá sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP) cho 16 nhà máy chế biến gạo và 10 công ty chế biến cà phê.

Theo ông Phạm Văn Tỏ, Phó Trưởng phòng Phòng Kỹ thuật và Xây dựng cơ bản (TCty Lương thực Miền Nam), đã có tổng cộng 8 đơn vị thành viên của TCty tham gia thực hiện thí điểm tiết kiệm năng lượng.

Tiết kiệm năng lượng là mối bận tâm của TCty Lương thực Miền Nam từ nhiều năm qua vì điện năng chiếm tới 20-35% chi phí sản xuất. Đây là một chi phí rất lớn, và nếu chỉ cần tiết giảm được một vài phần trăm lượng điện tiêu thụ, TCty cũng đã có thể tiết kiệm được một khoản chi phí không nhỏ.

TCty Lương thực Miền Nam đã từng triển khai nhiều giải pháp về công nghệ, thiết bị theo hướng tiết kiệm điện và chuyển đổi việc sử dụng nguồn nhiên liệu từ dầu hoặc than sang sử dụng trấu rời sẵn có trong quá trình xay xát lúa. Năm 2013, TCty bắt đầu tiếp cận Dự án về sử dụng hiệu quà tài nguyên và sản xuất sạch hơn.

Kết quả đạt được rất khả quan, các đơn vị đã tiết kiệm được tổng cộng 983.764 kWh điện (912.254 kWh điện trong sản xuất và 71/510 kWh điện trong sinh hoạt), tổng giá trị tiết kiệm là hơn 1,4 tỷ đồng.

Bên cạnh đó là hiệu quả không nhỏ về mặt môi trường vì áp dụng sản xuất sạch hơn góp phần làm giảm thiểu hiệu ứng nhà kính thích ứng với BĐKH. Với kết quả đó, TCty Lương thực Miền Nam sẽ tổ chức phổ biến, triển khai đại trà ra tất cả các đơn vị còn lại.

Thống kê của dự án cho thấy trong 4 năm qua, 16 nhà máy chế biến gạo và 10 Cty chế biến cà phê, khi thử nghiệm các giải pháp sản xuất sạch hơn, đã tiết kiệm được 1,08 triệu kWh điện/năm, tương đương với 80.000 USD, cắt giảm 621 tấn CO2/năm.

Tận dụng phế phẩm

Những nghiên cứu, đánh giá của các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện dự án, cho thấy, trong ngành sản xuất lúa gạo ở nước ta nói riêng, trồng trọt nói chung, còn rất nhiều khâu có thể gia tăng giá trị nếu áp dụng các biện pháp sạch hơn thông qua những giải pháp công nghệ, kỹ thuật tiên tiến.

Trong khâu chế biến lúa gạo, nếu tận dụng được nguồn tro trấu, sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế và giảm thiểu tác động các bon đến môi trường. Khảo sát mới đây của Nhóm năng lượng thuộc Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) tại 7 nhà máy xay xát gạo ở ĐBSCL, cho thấy, vỏ trấu do các nhà máy này có được trong quá trình xay xát đang được sử dụng làm chất đốt dưới các dạng viên nén, củi trấu và trấu rời, tuy nhiên hiệu quả kinh tế chưa cao.

Trong khi đó, nguồn tro trấu sau khi đốt hết vỏ trấu lại chưa được sử dụng. Nếu quá trình đốt trấu có kiểm soát để tạo ra tro silica vô định hình (ASA) sẽ có thể sử dụng làm phụ gia bê tông, thay thế xi măng… Khi ấy, thay vì phải tốn khoảng 20 USD/tấn để đổ đi, nguồn tro silica vô định hình có thể được bán với giá 200-600 USD/tấn.

Còn theo ông Lê Viết Vinh (Cty Viết Hiền, Đăk Lăk), sử dụng các phế phẩm nông nghiệp như vỏ trấu, vỏ cà phê… làm nguyên liệu trong công nghệ đốt nhiệt phân đem lại rất nhiều lợi ích về kinh tế và môi trường.

Với sự hợp tác và hỗ trợ của một số tổ chức, cơ quan trong và ngoài nước như UNIDO, Sofies, VNCPC…, ông Vinh đã xây dựng được lò đốt nhiệt phân tại cơ sở của mình. Sử dụng vỏ trấu làm nguyên liệu, dưới tác động cháy của công nghệ Flox (công nghệ cháy không có ngọn lửa), nhiệt độ đạt được rất cao trong buồng đốt, đảm bảo một sự cháy hoàn toàn nên hạn chế tối đa mức xả thải các khí độc hại như CO và Nox.

Bên cạnh đó, khí nóng thu được sử dụng cho sấy cà phê rất hiệu quả, đạt chất lượng tốt. Vỏ trấu sau khi cháy hết trở thành than sinh học, khi sử dụng trong trồng trọt sẽ giúp cải thiện độ tơi xốp của đất và có khả năng giữ nước cao, đồng thời rất thân thiện với môi trường. Trong mùa mưa vừa qua, hệ thống đốt nhiệt phân của Cty Viết Hiền đã hoạt động thử nghiệm rất có hiệu quả ở HTX Bình Minh (Đăk Lăk).

Theo nongnghiep.vn

Dự án SUPA trao quà hỗ trợ người nghèo

Trong khuôn khổ dự án “Xây dựng chuỗi cung ứng cá tra bền vững tại Việt Nam” do Liên minh Châu Âu tài trợ thông qua Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế tại Việt Nam (WWF VN) và Áo (WWF AT), một Trang trại mẫu đã được xây dựng tại khu vực phường Tân Phú, quận Cái Răng, tp Cần Thơ.

Trang trại nằm trong khu đất nghiên cứu, thực nghiệm của Trường Đại học Cần Thơ và nhằm mục đích nghiên cứu, thực tập, nâng cao kinh nghiệm thực tế cho sinh viên, cũng như thử nghiệm các công nghệ mới trước khi chuyển giao tới các doanh nghiệp và hộ dân nuôi cá tra.

Sau 2 năm xây dựng và 6 tháng vận hành nuôi cá thử nghiệm, với sự đồng ý của Cơ quan tài trợ EC, dự án đã tiến hành thu hoạch toàn bộ số cá và hỗ trợ cho các hộ nghèo khu vực xung quanh dự án vào ngày 27/12/2016 tại phường Tân Phú.

 Picture1  

Toàn cảnh Lễ trao quà tặng hỗ trợ người nghèo

Tham dự Lễ trao quà, về phía địa phương có ông Nguyễn Văn Tám (chủ tịch phường), ông Phạm Hùng Thống (Bí thư Đảng ủy phường) và các đại diện Mặt trận tổ quốc, Đoàn thể phường; Phía Đại học Cần Thơ có PGS.TS Trần Ngọc Hải (phó Trưởng Khoa Thủy sản), TS Nguyễn Thanh Long (phó Trưởng Khoa Thủy sản), PGS.TS Phạm Thanh Liêm (Phó trưởng Bộ môn Nuôi nuôi nước ngọt), TS Nguyễn Văn Triều (Giám đốc Trung tâm Thủy sản công nghệ cao). Đại diện dự án SUPA là ông Lê Xuân Thịnh (Phó Giám đốc VNCPC, Quản lý dự án SUPA) và 106 hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn phường tham dự sự kiện.

Trước khi trao quà tặng, ông Nguyễn Văn Tám (chủ tịch phường) đã thay mặt UBND phường và các hộ nghèo phát biểu cảm ơn Cơ quan tài trợ EC, Dự án SUPA và Trường ĐH Cần Thơ đã có một hành động rất thiết thực và nhân văn hỗ trợ người nghèo trên địa bàn phường có một cái Tết rất ấm cúng và có ý nghĩa.

Picture3

Chủ tịch Phường Tân phú phát biểu

Picture4

Các hộ dân nhận quà tài trợ

Kết thúc buổi Lễ trao quà tài trợ, UBND phường Tân phú đã trao giấy cảm tạ cho Dự án và Trường Đại học Cần Thơ với lời chúc cho dự án SUPA thành công và có nhiều hoạt động ý nghĩa hơn nữa hỗ trợ cho người dân khu vực Cần Thơ nói riêng và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung.

Picture5

UBND phường Tân Phú trao giấy cảm tạ cho Dự án và Trường ĐH Cần Thơ

Picture6

Chụp ảnh lưu niệm của dự án với địa phương

VNCPC

Phó Chủ tịch Ủy ban ATGT: Tôi vẫn đi làm bằng xe đạp

TPO – “Hằng ngày tôi vẫn đi làm bằng xe đạp. Việc đó là bình thường, chỉ khi nào tới các cơ quan nhà nước, họ thấy tôi hơi lạ”. Đó là ý kiến của ông Khuất Việt Hùng, Phó Chủ tịch chuyên trách Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia (UB ATGT QG) tại hội thảo “Khuyến khích mô hình xe đạp công cộng tại Hà Nội” ngày 28/9.
Bk - Ebike mô hình thí điểm xe đạp tại Hà Nội

Bk – Ebike mô hình thí điểm xe đạp tại Hà Nội

Theo ông Hùng, hiện nay người Việt quá phụ thuộc vào xe máy, quãng đường 200 mét cũng đi xe máy, góp phần gây ra tình trạng ùn tắc giao thông. Trong khi đó, xe đạp mang lại rất nhiều lợi ích cho cộng đồng như không tạo ra khí thải CO2…

“Việc chuyển sang đi xe đạp sẽ phù hợp cho mỗi người dân, xã hội, bảo vệ môi trường. Chúng ta nên có giải pháp khuyến khích để xe đạp trở thành phương tiện đi làm của người dân, nhất là tuyến đường tốc độ tối đa 30 km/h”, ông Hùng cho biết.

Ông Trần Hữu Minh, Phó Chánh Văn phòng UB ATGT QG cho rằng, để phát triển hệ thống xe đạp thành công tại Việt Nam cần nhiều giải pháp như phát triển hệ thống hạ tầng hỗ trợ cho người đi xe đạp (gồm làn đường cho xe đạp, điểm dừng, trông giữ, bảo quản xe đạp). Quy hoạch các khu chức năng trong đô thị hợp lý, người dân có thể thực hiện những chuyến đi ngắn trong phạm vi 3-4 km, lúc đó xe đạp sẽ trở nên rất phổ biến.

Hiện nay, với sự tài trợ của Thuỵ Sĩ, Đại học Bách Khoa Hà Nội triển khai thí điểm dự án “Thí điểm năng lượng mặt trời & xe đạp điện hai bánh tại Hà Nội – Ebike”. Dự án triển khai các trạm sạc và cho thuê xe đạp điện bằng năng lượng mặt trời tại một số trường học ở Hà Nội. Dự án đã đưa vào sử dụng 730 xe đạp và xe đạp điện tại Hà Nội.

Sau 2 năm triển khai, báo cáo đánh giá hiệu quả giảm phát thải CO2 của Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam cho thấy, dự án đã góp phần làm giảm khoảng 20 tấn lượng CO2 so với việc sử dụng xe máy chạy xăng trong năm 2015 và nửa đầu năm 2016. Dự án đặt ra mục tiêu đến 2020 sẽ có 12.000 xe, với 400 trạm BK-ebike.

Theo tienphong.vn

Dự án “Triển khai sáng kiến KCN sinh thái hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam” (EIP) đã triển khai 2 đợt đánh giá thuộc hợp phần đào tạo nhân lực và đánh giá Hiệu quả tài nguyên và Sản xuất sạch hơn (RECP) tại các doanh nghiệp

Mở đầu cho hợp phần này là khoá huấn luyện tập trung thực hiện RECP kéo dài 3 ngày tại mỗi địa phương vào tháng 1 năm 2016. 

Tiếp theo là đợt đánh giá lần 1 diễn ra từ ngày 29/2 – 5/3/2016 tại 7 công ty ở Ninh Bình, từ ngày 14/3 – 19/3/2016 tại 6 công ty ở Đà Nẵng và từ 7/3 đến 17/3/2016 tại 10 công ty ở Cần Thơ. Tại đợt đánh giá này, các chuyên gia của VNCPC đã khảo sát chung toàn bộ quy trình sản xuất của công ty, đánh giá hiện trạng sử dụng nguyên vật liệu, quản lý hoá chất và chất thải, khảo sát các hệ thống tiêu thụ năng lượng và nước, tiến hành kiểm tra và đo đạc bằng các thiết bị chuyên dụng để xác định tổn hao về đầu vào sản xuất. Từ đó nhóm chuyên gia đã trao đổi và hỗ trợ kỹ thuật giúp doanh nghiệp nhìn nhận những giải pháp RECP hiển nhiên để có thể triển khai ngay việc hiện thực hóa tiềm năng tiết kiệm chi phí sản xuất. Điều này giúp doanh nghiệp có thêm động lực để thực hiện đầy đủ đánh giá RECP với tác động cải thiện lâu dài hơn trong suốt thời gian tới.

Work meeting with company

Đoàn chuyên gia đang làm việc với Công ty

Đợt đánh giá lần 2 diễn ra từ ngày 11/4 – 16/42016 tại Ninh Bình, từ 19/4 – 23/4/2016 tại Đà Nẵng và Cần Thơ. Tại đợt đánh giá này, các chuyên gia và Công ty tiếp tục thảo luận về các giải pháp RECP đơn giản đã được thực hiện, phân tích hiệu quả của các giải pháp và rút ra bài học kinh nghiệm, thu thập số liệu bổ sung cho công việc tính toán cân bằng vật liệu và định giá dòng thải, phân tích sơ bộ tính khả thi của các giải pháp cần đầu tư cao.

Cooling tower assessment

Chuyên gia VNCPC đang khảo sát tháp giải nhiệt tại một nhà máy ở Cần Thơ

Đợt đánh giá lần 3 dự kiến diễn ra từ ngày 25 – 27/5/2016 tại Ninh Bình, 31/5 đến 3/6/2016 tại Đà Nẵng và 30/5-3/6/2016 tại Cần Thơ.

VNCPC

Bài phát biểu tuyệt vời của Thủ tướng Bhutan về Chương trình Chống biến đổi khí hậu của quốc gia nhỏ bé này

Hội nghị Công ước khung các nước về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (COP 21) năm 2016 đặt ra kỳ vọng nhằm hạn chế nhiệt độ địa cầu gia tăng không quá 2 độ C. 

Các nhà khoa học khẳng định, nếu không kiểm soát thành công ngưỡng nhiệt độ này, Trái Đất sẽ rơi vào một chu kỳ thảm họa vô cùng thảm khốc và khó có thể đảo ngược. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng biến đổi khí hậu là nguyên nhân gây ra cái chết cho 141.000 người mỗi năm và con số này dự kiến sẽ còn tăng lên tới 250.000 người tới trước năm 2050. Trong khi đó, ngân hàng Thế giới (WB) ước tính, sự nóng lên toàn cầu sẽ đẩy 100 triệu người phải lâm vào tình cảnh đói khổ, thiếu lương thực, thuốc men và các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày trước năm 2030.

Trong khi vẫn các chính phủ còn mải tranh cãi và đổ lỗi cho nhau về nguyên nhân gây biến đổi khí hậu ở COP 15 (Copenhagen, 2009) thì Bhutan, là một quốc gia nhỏ bé ở khu vực Hy-ma-lay-a, đã tuyên hứa duy trì phát thải cacbon ở mức 0. Cho tới COP21, họ vẫn giữ lời hứa như vậy. Hãy cùng theo dõi câu chuyện chống biến đổi khí hậu ở Bhutan, một đất nước coi Tổng Hạnh phúc quốc dân quan trọng hơn Tổng sản phẩm quốc nội.

tshering-tobgay1Thủ tường Bhutan – Tshering Tobgay phát biểu tại Hội nghị TED2016 – diễn ra từ ngày 15-19/2/2016 tại Trung tâm Hội nghị Vancouver, Vancouver, Canada. (nguồn ảnh: blog.ted.com)

Theo VNCPC Admin 

 

Giải pháp thúc đẩy sản xuất xanh

Bà Nguyễn Lê Hằng – Điều phối viên Quỹ Uỷ thác Tín dụng xanh (GCTF) – Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam – trả lời phỏng vấn trong chương trình “Câu chuyện hội nhập” – Kênh truyền hình Nhân dân về chủ đề những giải pháp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua được những khó khăn và rào cản để ứng dụng mô hình sản xuất xanh vào doanh nghiệp của mình.

Screen Shot 2016-04-13 at 10.12.01 AM

 

Link video phỏng vấn 

 

 

 

 

Khuyến công Khánh Hòa: Tích cực hỗ trợ doanh nghiệp

Thực hiện Chương trình khuyến công do UBND tỉnh Khánh Hòa và Cục Công nghiệp địa phương (Bộ Công Thương) ban hành, Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại (KC-XTTM) đã tích cực hỗ trợ các đơn vị đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ, ứng dụng máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất.

Nhiều chương trình hỗ trợ

Năm 2015, doanh nghiệp (DN) tư nhân Đông dược Dân Lợi (phường Cam Phúc Bắc, TP. Cam Ranh) được Trung tâm KC-XTTM hỗ trợ 150 triệu đồng từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương, qua đó có điều kiện mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. DN tư nhân Phương Đài (thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn) cũng mới được hỗ trợ 130 triệu đồng từ chương trình khuyến công địa phương. Ông Trần Văn Ân, chủ cơ sở chế biến sản phẩm từ xoài ở xã Cam Thành Nam (TP. Cam Ranh) cho biết: “Gia đình tôi muốn mua máy móc hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nhưng kinh phí quá lớn nên khó thực hiện. Nhờ chương trình khuyến công hỗ trợ hơn 112 triệu đồng nên tôi đã mạnh dạn thực hiện đề án”.

Bên cạnh đó, Trung tâm KC-XTTM còn tích cực giúp các DN được hưởng thụ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia. Trong năm 2015, Bộ Công Thương đã hỗ trợ 350 triệu đồng cho Công ty Cổ phần Vật liệu mới Asia. Nguồn kinh phí này hỗ trợ một phần tổng kinh phí mà công ty đã đầu tư thiết bị máy móc, dây chuyền sản xuất gạch không nung và trình diễn mô hình sản xuất cho các đơn vị khác học tập.

Ông Lê Ngọc, quyền Giám đốc Trung tâm KC-XTTM cho biết: “Năm 2015, trung tâm đã hỗ trợ các DN trong chương trình khuyến công địa phương với tổng kinh phí  hơn 516 triệu đồng, chương trình khuyến công quốc gia với tổng kinh phí 350 triệu đồng. Bên cạnh đó, tổ chức thành công cuộc bình chọn và tôn vinh sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu lần thứ 2. Nhờ nguồn kinh phí khuyến công, nhiều DN có điều kiện đầu tư máy móc, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm”.

Đẩy mạnh hoạt động khuyến công

Trên cơ sở kết quả đạt được, Trung tâm KC-XTTM đã đề xuất kinh phí khuyến công địa phương năm 2016 với tổng số tiền hơn 2,2 tỷ đồng. Để nâng cao năng lực quản lý cho các cơ sở công nghiệp nông thôn, trang bị kiến thức về quy trình xây dựng trong lĩnh vực nông – lâm – thủy sản, trung tâm sẽ tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua giới thiệu và hướng dẫn các tiêu chuẩn trong từng lĩnh vực; tổ chức các chuyên đề hội thảo về giải pháp định hướng phát triển cho DN nhỏ và vừa trong thời kỳ hội nhập. Bên cạnh đó, tổ chức các lớp phổ biến vật liệu xây không nung, bê tông nhẹ và công nghệ sản xuất các sản phẩm này.

Được biết, hiện nay, các DN, cơ sở công nghiệp nông thôn rất cần chuyển đổi công nghệ, ứng dụng thiết bị tiên tiến vào khâu sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, trong năm 2016, Trung tâm KC-XTTM sẽ phối hợp với Phòng Quản lý Cụm công nghiệp (Sở Công Thương) và phòng kinh tế các huyện, thị xã, thành phố xây dựng 13 mô hình ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào khâu sản xuất ở 5 địa phương gồm: Nha Trang, Diên Khánh, Cam Lâm, Cam Ranh và Khánh Vĩnh. Những đề án sẽ được tập trung hỗ trợ như: ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến sản xuất trà thảo dược (hộ kinh doanh Hoàng Hoa Thôn, xã Phước Đồng, TP. Nha Trang); ứng dụng máy móc thiết bị sản xuất gạch không nung (DN tư nhân Xây dựng cơ bản Việt Ngân, huyện Diên Khánh); ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến sản xuất sản phẩm cơ khí phục vụ ngành đóng tàu (Công ty TNHH Hưng Bảo, huyện Diên Khánh)…

Ngoài ra, trên cơ sở các đơn vị đăng ký đề án khuyến công quốc gia năm 2015, Sở Công Thương đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thẩm định trình Bộ Công Thương duyệt kế hoạch khuyến công quốc gia năm 2016. Theo đó, tổng kinh phí hỗ trợ là 1,4 tỷ đồng, với những đề án như: sản xuất gạch không nung của Công ty Cổ phần Kỹ thuật cầu đường An Phong (xã Diên Lâm, huyện Diên Khánh); sản xuất các sản phẩm cơ khí phục vụ ngành tàu biển của Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại H.T.H (xã Diên Phú, huyện Diên Khánh); sản xuất khuôn bế hộp phục vụ ngành bao bì của Công ty TNHH Sản xuất thương mại Trúc Lâm (xã Vĩnh Thái, TP. Nha Trang); sản xuất gạch không nung của Công ty TNHH Thuận Phát (xã Phước Đồng, TP. Nha Trang).

Bà Tô Thị Thu Nga, Phó Trưởng phòng Kinh tế TP. Nha Trang cho rằng, thời gian tới, Trung tâm KC-XTTM cần phối hợp với phòng chức năng các huyện, thị xã, thành phố đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách để các cơ sở kinh doanh nắm được, từ đó chủ động tham gia, thụ hưởng nguồn kinh phí khuyến công. Bên cạnh đó, trung tâm cần nâng cao mức hỗ trợ khuyến công cho các nội dung đầu tư ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến để khuyến khích các cơ sở mạnh dạn đổi mới.

Theo sxsh.vn

Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên nước từ hồ chứa

Trên thực tế, các nhà máy thủy điện trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý đang phối hợp với chính quyền địa phương vùng hạ du sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước từ các hồ chứa, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp điện vừa đảm bảo nhiệm vụ chính trị là cấp nước sinh hoạt và nước phục vụ chống hạn cho ngành nông nghiệp trong mùa khô. 

Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ, ông Đặng Văn Tuần cho biết, Công ty thường xuyên làm việc với Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Nhân dân huyện Sơn Hòa, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các huyện để tận dụng, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước.

Ngay trong vụ Đông Xuân này và sắp tới là vụ Hè Thu, trước khi vận hành chạy máy phát điện cấp nước, Công ty thông báo với các Trạm bơm ở huyện Sơn Hòa để chủ động thời gian bơm cấp nước cho đồng ruộng hiệu quả, tiết kiệm tận dụng tối đa nguồn nước, tránh lãng phí.

Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ

Công ty cũng thường xuyên liên lạc và làm việc với các Hợp tác xã ở hạ du sông Ba để tìm hiểu rõ từng giai đoạn quá trình phát triển của cây lúa từ đó có lịch cấp tưới tiêu phù hợp, đồng thời cung cấp nước đảm bảo kịp thời khi cây lúa sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn đầu trỗ bông cần nước nhiều để tăng năng suất của lúa. Công ty cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ còn tăng cường phối hợp với nhà máy thủy điện Sông Hinh để việc cung cấp nước được thuận lợi và tăng hiệu quả chống hạn.

Ngay từ đầu tháng 12 hàng năm, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp đã làm việc với các địa phương liên quan, đại diện là các Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện để xác định về nhu cầu sử dụng nước phục vụ nông nghiệp trong các tháng mùa kiệt. Sau đó, Công ty trình kế hoạch khai thác hồ chứa vào các tháng mùa kiệt đến Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban Nhân dân các huyện/thành phố thuộc 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông để theo dõi chỉ đạo và phối hợp thực hiện nhằm khai thác các hồ sao cho hiệu quả cao nhất.

Trong quá trình vận hành hàng ngày, khi trên lưới điện Quốc gia có những thay đổi ảnh hưởng đến chế độ vận hành của các nhà máy, làm lượng xả ra hạ du từ các hồ không đạt theo quy định, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp cũng đã thông báo kịp thời đến các bên liên quan để sớm có kế hoạch phù hợp trong việc tưới tiêu, canh tác nông nghiệp. Nhờ vậy, từ năm 2009 đến nay, các hồ thủy điện do công ty quản lý luôn đảm bảo cung cấp đủ nước tưới tiêu nông nghiệp vào các tháng mùa kiệt cho các vùng hạ du hồ.

Ông Nguyễn Tấn Triết, Phó Giám đốc Công ty cho hay, để tạo thuận lợi cho nhân dân và các trạm bơm thuỷ lợi trong việc bơm nước tưới tiêu, Công ty đã chế tạo và lắp đặt Hệ thống cảnh báo xa dọc hạ lưu hồ để thông báo thời gian xả nước, để nhân dân trong vùng và các Trạm bơm ​thủy lợi chủ động trong việc bơm nước. Bên cạnh đó, Công ty thiết lập số điện thoại nóng (0500 2480 412) tại Phòng điều khiển trung tâm nhà máy thủy điện Buôn Tua Srah để tiếp nhận 24/24 giờ mọi sự yêu cầu của nhân dân địa phương.

Hồ Buôn Tua Sah cung cấp nước chủ yếu phục vụ canh tác nông nghiệp cho xã Ea R’Bin huyện Lắk (Đắk Lắk) , một số xã thuộc huyện Krông Ana và huyện Krông Nô (Đắk Nông). Dọc hạ du hồ Buôn Kuốp, Srêpôk 3 đặc thù đồi núi đá có độ dốc cao nên canh tác nông nghiệp bị hạn chế. Như vậy, việc khai thác hồ Buôn Tua Sah đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên sông Srêpôk.

Theo kế hoạch xả nước hồ chứa Buôn Tua Srah phục vụ tưới tiêu vụ Đông Xuân 2015-2016 và vụ Hè Thu 2016 đã được Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông Nô, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp và Chi nhánh Công ty Thủy nông huyện Krông Nô thống nhất, từ ngày 1-14/12/2015, chế độ xả hồ Buôn Tua Srah là ngày xả-ngày nghỉ để tiếp tục tích nước hồ, thời gian xả từ 10-12 giờ/ngày, xả từ 6 giờ sáng hàng ngày với lưu lượng xả khoảng 70m3/s; từ ngày 15/12/2015-30/4/2016, chế độ xả là hàng ngày, thời gian xả từ 12-14 giờ/ngày và lưu lượng xả khoảng 90m3/s.

Trong quá trình khai thác hồ mà chưa đáp ứng đủ nước phục vụ tưới tiêu cho hạ du thì Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông Nô sẽ đề nghị Công ty Thủy điện Buôn Kuốp điều chỉnh chế độ xả hồ này phù hợp với nhu cầu sử dụng nước khu vực hạ du hồ.

Đại Lộc là huyện hạ du của Quảng Nam có 10/18 xã sử dụng nước ở hệ thống sông Vũ Gia, còn 8 xã còn lại sử dụng nước của hồ chứa thủy lợi Khe Tăng. Ông Trần Quốc Khánh, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đại Lộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam cho biết, từ có sự phối hợp với tỉnh và nhà máy thủy điện A Vương, việc cung cấp và sử dụng nước trên địa bàn huyện được đảm bảo.

“Công ty thực hiện chế độ dự báo thông số hồ 10 ngày/lần, từ đó hiệu chỉnh lưu lượng xả phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn cụ thể, nhằm khai thác hiệu quả các nguồn nước từ các hồ chứa. Do vậy các nhà máy thủy điện trên hệ thống sông Vũ Gia hiện cung cấp nước ổn định cho vụ Đông Xuân này,” Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Đại Lộc nhận xét.

Từ đầu tháng 3 đến nay, lưu lượng về hồ Sê San 4 bình quân là 107 m3 /s, lưu lượng xả về hạ du qua các tổ máy để sản xuất điện năng là 102 m 3 /s, sản lượng điện sản xuất là 9,56 triệu kWh. Riêng ngày 9/3, mực nước hồ thủy điện Pleikrông là 564,43m, tương ứng với dung tích nước có khả năng xả về hạ du là 685,17 triệu m3. Mực nước hồ thủy điện Ialy là 498,74m, tương ứng với dung tích nước có khả năng xả về hạ du là 173,74 triệu m3.

Phó Giám đốc Công ty Phát triển Thủy điện Sê San, ông Nguyễn Đăng Hà cho rằng hiện nay, hồ Sê San 4 vận hành được nhờ lượng nước xả từ hồ chứa thủy điện Pleikrông và Ialy xả về. Trong khi lưu lượng nước xả về hạ du từ dung tích các hồ hiện đang có đến cuối mùa kiệt, theo tính toán trung bình là 86m 3/s. Như vậy, lưu lượng xả về hạ du từ nay cho đến cuối mùa bao gồm lưu lượng tự nhiên sông Sê San và lưu lượng xả từ các hồ dự trữ hiện có khoảng từ 90-195m 3/s.

Theo Vietnamplus/TTXVN