Bài viết

Điện gió sẽ dẫn đầu ngành năng lượng toàn cầu

Dự kiến năm 2020 công nghiệp điện gió ngoài khơi thế giới sẽ đạt mức tăng công suất hơn 6 GW, bất chấp tác động của cuộc khủng hoảng Covid-19. Công suất điện gió ngoài khơi đến năm 2030 sẽ vượt 234 GW, dẫn đầu là các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Ngày 5/8, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) công bố báo cáo về điện gió ngoài khơi toàn cầu cho thấy công suất điện gió ngoài khơi toàn cầu sẽ tăng vọt từ 29.1 GW vào cuối năm 2019 lên đến mức hơn 234 GW vào năm 2030, nhờ sức tăng trưởng theo cấp số nhân ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và đà phát triển mạnh vẫn được duy trì ở châu Âu.

Hôm nay GWEC phát hành số thứ hai bản Báo cáo Điện gió ngoài khơi toàn cầu. Tài liệu cung cấp bức tranh toàn diện về ngành điện gió ngoài khơi trên toàn thế giới, với dữ liệu và phân tích mới nhất về tăng trưởng thị trường, cùng dự báo ngành đến năm 2030 và những đánh giá dựa trên dữ liệu về các thị trường mới nổi. Báo cáo cũng bao gồm các bài học kinh nghiệm về các chương trình hỗ trợ, phát triển ngành và tạo việc làm, kết nối lưới điện, giảm chi phí và chuỗi cung ứng, cũng như đảm bảo sức khỏe và an toàn để thúc đẩy tăng trưởng thị trường điện gió ngoài khơi toàn cầu.

Báo cáo chỉ ra năm 2019 là năm phát triển mạnh mẽ nhất ngành điện gió ngoài khơi từng ghi nhận, với mức tăng 6,1 GW công suất mới trên toàn thế giới, nâng tổng lắp đặt tích lũy toàn cầu lên 29,1 GW. Trung Quốc hai năm liên tiếp đứng ở vị trí số một về công suất lắp đặt mới, đạt công suất lắp đặt kỷ lục 2,4 GW, theo sau là Vương quốc Anh ở mức 1,8 GW và Đức ở mức 1,1 GW. Trong khi châu Âu tiếp tục là khu vực đi đầu về điện gió ngoài khơi, các quốc gia trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, như Đài Loan, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc, cùng với thị trường Mỹ cũng đang nhanh chóng tăng tốc và sẽ là khu vực tăng trưởng mạnh mẽ trong thập kỷ tới.

Việt Nam là một trong những thị trường tiềm năng mới của công nghiệp điện gió ngoài khơi.

GWEC Market Intelligence dự báo đến năm 2030, hơn 205 GW công suất điện gió ngoài khơi mới sẽ được bổ sung trên toàn cầu, trong đó sẽ có ít nhất 6,2 GW điện gió nổi ngoài khơi. Con số này cao hơn 15 GW so với mức triển vọng mà GWEC Market Intelligence dự báo thời kỳ tiền Covid, chứng minh khả năng phục hồi có thể giúp ngành này đóng vai trò làm động lực chính cho cả công cuộc phục hồi xanh và quá trình chuyển đổi năng lượng.

Ben Backwell, Giám đốc điều hành của GWEC đánh giá: “Điện gió ngoài khơi đang thực sự mở rộng trên toàn cầu, đó là nhờ chính phủ các nước trên thế giới nhận ra vai trò của công nghệ trong việc khởi động phục hồi kinh tế hậu Covid thông qua đầu tư quy mô lớn, tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế cho các cộng đồng ven biển. Trong thập kỷ tới, chúng ta sẽ thấy các thị trường điện gió ngoài khơi mới nổi như Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam được triển khai một cách toàn diện, đồng thời sẽ chứng kiến các turbine ngoài khơi đầu tiên được lắp đặt tại một số quốc gia khác ở châu Á, châu Mỹ Latinh và châu Phi.

Báo cáo cho thấy khu vực điện gió ngoài khơi sẽ tạo ra 900.000 việc làm trong thập kỷ tới – và con số này chắc chắn sẽ còn tăng lên nếu các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chiến lược phục hồi giúp đẩy nhanh hơn nữa tốc độ tăng trưởng của ngành. Hơn nữa, 1 GW năng lượng gió ngoài khơi đồng nghĩa chúng ta tránh được 3,5 triệu tấn CO2 – cho thấy đây là công nghệ quy mô lớn có hiệu quả nhất hiện có giúp tránh phát thải khí carbon và thay thế nhiên liệu hóa thạch tại nhiều nơi trên thế giới”.

Thị trường điện gió ngoài khơi toàn cầu mỗi năm tăng trưởng trung bình 24% kể từ năm 2013. Châu Âu vẫn là thị trường lớn nhất cho điện gió ngoài khơi tính đến cuối năm 2019, chiếm 75% tổng công suất lắp đặt toàn cầu. Châu lục này sẽ tiếp tục dẫn đầu về điện gió ngoài khơi, với mục tiêu đầy tham vọng 450 GW vào năm 2050, đến từ các dự án lắp đặt mới tại Anh, Hà Lan, Pháp, Đức, Đan Mạch và Ba Lan, với một số thị trường EU khác cũng đạt sản lượng hai chữ số.

Bắc Mỹ hiện chỉ có 30 MW công suất điện gió ngoài khơi đang hoạt động vào cuối năm 2019, nhưng khu vực này sẽ tăng tốc triển khai trong những năm tới, với 23 GW dự báo sẽ được lắp đặt vào năm 2030. Phần lớn của mức tăng trưởng này sẽ đến từ Hoa Kỳ nơi ngành công nghiệp này vừa chớm nở, và chúng ta có thể hy vọng được chứng kiến các dự án quy mô lớn sẽ hoà lưới vào năm 2024 tại quốc gia này.

Báo cáo nhấn mạnh ngành công nghiệp này phát triển sôi động ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhờ các quốc gia nâng tham vọng, dẫn đầu là Trung Quốc, với 52 GW công suất điện gió ngoài khơi mới dự kiến ​​sẽ được lắp đặt vào năm 2030. Đài Loan sẽ trở thành thị trường điện gió ngoài khơi lớn thứ hai tại châu Á sau Trung Quốc đại lục, với mục tiêu 5,5 GW vào năm 2025 và thêm 10 GW vào năm 2035. Các thị trường khác trong khu vực cũng bắt đầu mở rộng quy mô, với Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc dự kiến ​​sẽ lắp đặt lần lượt là 5,2 GW, 7,2 GW và 12 GW công suất điện gió ngoài khơi.

Thành Công
https://petrotimes.vn/dien-gio-se-dan-dau-nganh-nang-luong-toan-cau-575523.html

Tuabin gió lấy cảm hứng từ loài chim ruồi

Lấy ý tưởng từ chim ruồi vỗ cánh, công ty Tyer Wind (Tunisia) đã phát minh ra tuabin gió có thể chuyển động mọi hướng tạo ra năng lượng sạch.

Tyer Wind đã nghiên cứu các loại chim ruồi đập cánh trong tự nhiên, và phát hiện ra điều thú vị về cánh bay của loài chim này. Loài chim nhỏ bé này là một trong những động vật sở hữu tốc độ lớn nhất trong tự nhiên.

Khi dùng camera quay chậm, người ta phát hiện khi lao xuống từ độ cao 30 mét để gây ấn tượng với chim cái, chim ruồi đực có thể đạt tốc độ 92,8km/h. Để so sánh khi thì con chim ruồi dài 10 cm đã di chuyển được quãng đường dài 385 lần chiều dài cơ thể mỗi giây. Tốc độ này của một phi cơ chiến đấu chỉ là 150 lần, ở tàu con thoi là 207 lần.

Ngoài ra do tập tính kiếm ăn, chim ruồi sở hữu khả năng bay đứng một chỗ và bay lùi rất ấn tượng. Mô phỏng cách bay của chim ruồi, Tyer Wind chế tạo một tuabin gió hình cánh chim từ công nghệ in 3D. Khi có gió thổi đến cánh chim chuyển động như cách chim ruồi đang bay đứng hay bay lùi.

Cách thiết kế này còn có một ưu điểm khác là giúp tuabin gió nhanh chóng thích ứng với các loại gió trong những môi trường khác nhau.

G.Minh
https://petrotimes.vn/tuabin-gio-lay-cam-hung-tu-loai-chim-ruoi-572500.html

IEA & Kịch bản phát triển bền vững

Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) khuyến cáo: Tăng cường tiết kiệm năng lượng, giảm phụ thuộc vào dầu mỏ, phát triển năng lượng tái tạo – hệ thống năng lượng toàn cầu phải nhanh chóng và đồng loạt thực hiện những điều đó để hạn chế biến đổi khí hậu.

Fatih Birol, Giám đốc điều hành IEA, khẳng định trong báo cáo thường niên ngày 13-11-2019: “Thế giới cần khẩn trương tập trung vào việc giảm khí thải toàn cầu. Điều này đòi hỏi một sự đoàn kết to lớn từ các chính phủ, giới đầu tư, doanh nghiệp và tất cả những người cam kết giải quyết biến đổi khí hậu”.

Fatih Birol, Giám đốc điều hành IEA.

Năm 2018, nhu cầu năng lượng toàn cầu tăng đáng kể, kéo theo lượng khí thải CO2 tăng theo, xu hướng này có thể sẽ tiếp tục trong năm 2019.

Như mọi năm, IEA công bố một số kịch bản: Kịch bản thứ nhất ngoại suy về các chính sách năng lượng hiện có. Kịch bản thứ hai tính đến những thay đổi do các mục tiêu chính trị đưa ra trong tương lai, nhưng vẫn chưa đủ. Chỉ có kịch bản thứ ba cho thấy những gì nên được thực hiện để hạn chế lượng khí thải theo các mục tiêu của Thỏa thuận Paris, nhằm ngăn chặn trái đất nóng lên không quá 2 độ C so với các mức của thời kỳ tiền công nghiệp. “Kịch bản phát triển bền vững này đòi hỏi những thay đổi nhanh chóng và rộng khắp trong toàn bộ hệ thống năng lượng, không có giải pháp đơn lẻ hay đơn giản nào để chuyển đổi các hệ thống năng lượng toàn cầu”, ông Fatih Birol nhấn mạnh.

Giả định rằng nhu cầu năng lượng vào năm 2040 thấp hơn so với hiện nay thông qua các nỗ lực tăng hiệu quả năng lượng. Nhưng việc tăng hiệu quả năng lượng không tiến triển đủ nhanh, IEA đã cảnh báo trong một báo cáo được công bố vào đầu tháng 11-2019. Theo đó, mức tăng của hiệu quả năng lượng chưa bao giờ chậm như năm 2018: Chỉ tăng 1,2%, thấp hơn mức 3% cần thiết.

Theo IEA, để đạt được các mục tiêu khí hậu đòi hỏi giảm sử dụng dầu mỏ và than, trong khi khí đốt phải tăng nhẹ trước khi bắt đầu giảm. Nhu cầu dầu mỏ phải giảm xuống còn 65 triệu thùng/ngày vào năm 2040, so với 97 triệu thùng/ngày vào năm 2018.

Mặt khác, điện phải phát triển và chiếm vị trí quan trọng nhất trong việc tiêu thụ năng lượng cuối cùng, để thay thế cho dầu mỏ vào năm 2040. Công suất điện lắp đặt mới chỉ nên dành cho các dự án năng lượng tái tạo – điện gió và điện mặt trời.

“Đưa hệ thống điện vào một con đường phát triển bền vững sẽ đòi hỏi nhiều hơn là chỉ lắp đặt thêm các nguồn năng lượng tái tạo”, IEA cảnh báo. IEA nhấn mạnh, trong năm 2019, các nguồn phát thải trong hệ thống năng lượng hiện tại, cụ thể là than, gây ô nhiễm cao, cần được tập trung giải quyết. Các nhà máy nhiệt điện than rất nhiều và chủ yếu mới mọc lên ở châu Á, có khả năng tiếp tục phát thải trong một thời gian dài.

Báo cáo công bố ngày 13-11-2019 của IEA tập trung vào vấn đề đó và xác định một số giải pháp. Đầu tiên là trang bị cho các nhà máy nhiệt điện than khả năng thu hồi và hấp thụ carbon. Nhưng công nghệ hiện tại làm được điều này vô cùng đắt đỏ, với 1 tỉ euro/gigawatt (GW). Thứ hai, các nhà máy nhiệt điện than chỉ nên giữ vai trò sản xuất bổ trợ để bảo đảm tính linh hoạt của hệ thống điện. Triệt để hơn là đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than sớm hơn dự kiến.

Trong kịch bản bền vững, hầu hết 2.080 GW công suất điện than hiện tại của thế giới sẽ phải tuân thủ một trong những giải pháp trên, đó là cảnh báo của IEA.

Theo IEA, để đạt được các mục tiêu khí hậu đòi hỏi giảm sử dụng dầu mỏ và than, trong khi khí đốt phải tăng nhẹ trước khi bắt đầu giảm. Nhu cầu dầu mỏ phải giảm xuống còn 65 triệu thùng/ngày vào năm 2040, so với 97 triệu thùng/ngày vào năm 2018.

Theo S.P

https://nangluongquocte.petrotimes.vn/iea-kich-ban-phat-trien-ben-vung-556029.html

Thấy gì trong chính sách điện gió, mặt trời thay thế thủy điện ở Campuchia?

Trong khi Lào muốn trở thành trung tâm năng lượng ở Đông Nam Á với việc đẩy mạnh xây dựng đập thủy điện, thì Campuchia lại chú trọng phát triển năng lượng tái tạo (gió, mặt trời). Theo đó, quốc gia này chủ trương không xây dựng thêm nhà máy thủy điện dọc sông Mê Kông.

Nhu cầu điện tại Campuchia đang tăng mạnh đến mức “không thể đáp ứng nổi”. Năm 2019, lượng điện tiêu thụ quốc gia này đạt mức cao nhất trong lịch sử (tăng 32% so với mức tăng 16% của năm ngoái).

Tổng giám đốc Công ty Điện lực Campuchia (EDC) Keo Rattanak cho biết: Campuchia sẽ tăng đầu tư cho điện mặt trời thêm 12% vào cuối năm 2020 và tăng 20% tổng đầu tư cho ngành này trong ba năm tới.

Đa dạng hóa nguồn năng lượng

Trong mấy năm trở lại đây, đầu tư cho năng lượng mặt trời liên tục tăng tại Campuchia nhờ đầu tư nước ngoài và các ngân hàng quốc tế cho vay phát triển các trang trại điện mặt trời.

Giữa năm nay, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã thông qua khoản cho vay 7,64 triệu USD để hỗ trợ xây dựng công viên điện mặt trời có công suất 100 MW tại Campuchia.

ADB tin tưởng rằng, động thái trên sẽ giúp Campuchia phát triển nguồn năng lượng tái tạo, đa dạng hóa nguồn năng lượng, cũng như cải thiện tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Dự án Công viên Mặt trời Quốc gia sẽ nhận 11 triệu USD vốn vay và 3 triệu USD tài trợ từ Quỹ chiến lược khí hậu, đặc biệt thông qua Chương trình thúc đẩy năng lượng tái tạo.

Nguồn năng lượng tái tạo dồi dào

Trong báo cáo mới công bố, chuyên gia về biến đổi khí hậu hàng đầu của ADB Pradeep Tharakan cho biết: Phát triển nguồn năng lượng bền vững, giá thành đầu tư vừa phải và dồi dào như năng lượng mặt trời là vấn đề sống còn đối với tăng trưởng kinh tế của Campuchia.

Tuy vậy, sản lượng điện mặt trời mới chỉ đạt 10 MW, so với mức công suất 1.330 MW từ thủy điện, chiếm 62% nguồn cung điện tại Campuchia.

Quy định mới về điện mặt trời được EDC công bố đầu năm nay là đòn bẩy tích cực đối với phát triển điện mặt trời trong tương lai. Trong khi thủy điện sẽ gặp khó bởi lượng nước tại các đập xuống thấp vì hạn hán kéo dài.

Công ty Năng lượng Tái tạo Cleantech Solar, có trụ sở tại Singapore, hồi đầu năm nay đã thử nghiệm dự án năng lượng mặt trời tại Campuchia với công suất 9,8 MW, trong đó các tấm pin nổi trên mặt nước có công suất 2,8 MW sẽ sớm cấp điện cho Nhà máy ximăng Chip Mong Insee Cement Corp (CMIC) của Campuchia.

Theo CMIC, dự án năng lượng mặt trời nổi này có thể giảm chi phí vận hành đồng thời giảm tình trạng bay hơi nước.

Năng lượng từ gió cũng là giải pháp được Campuchia tính đến. Tuy nhiên, điện gió ở đây mới chỉ trong giai đoạn khởi đầu và chỉ có một công ty tham gia – đó là Blue Circle Pte Ltd có trụ sở tại Singapore.

Tháng 11/2019, Blue Circle đã bàn thảo với Chính phủ Campuchia về kế hoạch xây dựng một trang trại điện gió tại tỉnh Kampot, miền Nam nước này.

Blue Circle gần đây cũng đã hoàn thành nghiên cứu khả thi dự án điện gió ở tỉnh Mondulkiri, phía Đông Campuchia.

Với kế hoạch lắp đặt ít nhất 10 tua bin gió trên núi Bokor thuộc tỉnh Kampot, dự án này dự kiến đạt công suất 80 MW.

Trả lời tờ Capital Cambodia, Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (thuộc Bộ Mỏ và Năng lượng Campuchia) Victor Jona cho biết: Trong cuộc gặp giữa Bộ này và The Blue Circle ngày 19/11 vừa qua, dự án của The Blue Circle tại Kampot đã được thông qua.

Hiện Công ty này đang xác định ngày đàm phán với EDC về giá bán điện. Dự án khi đi vào khai thác sẽ cung cấp điện cho khoảng 180.000 hộ gia đình ở Kampot.

The Blue Circle tính toán rằng, họ có thể phát triển điện gió tại Campuchia với công suất hơn 250 MW trong thời gian ngắn nhất có thể trước khi hướng tới mục tiêu tăng thêm 500 MW trong những năm tới.

Tại Việt Nam, dự án điện gió của The Blue Circle – Nhà máy điện gió Đầm Nại tại thôn Láng Me, xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận phải mất ba năm – từ lúc lên khung tới hoàn tất xây dựng.

Thủy điện bộc lộ nhiều điểm yếu?

Một trong những thiệt hại lớn nhất do các dự án thủy điện dọc sông Mê kông gây ra là tác động tới hệ sinh thái, môi trường, kéo theo đó là ảnh hưởng tới sinh kế của người dân và nền văn hóa dọc con sông này.

Theo The Isaan Record, một tổ chức truyền thông ở Đông Bắc Thái Lan, người dân sống dọc sông Mê Kông phụ thuộc vào nghề đánh bắt để mưu sinh và đây là một phần văn hóa của họ từ thời xa xưa.

Nguồn cá dồi dào ở lưu vực sông Mê Kông từng là nguồn thức ăn, đồng thời mang lại thu nhập tốt cho người Lào và người Thái Lan sống hai bên bờ con sông này.

Tuy nhiên, với việc xây dựng các đập thủy điện và tình hình hạn hán kéo dài hiện nay, người dân sống bằng nghề đánh bắt cá tại đây lâm vào cảnh khó khăn.

Ủy ban Sông Mê Kông (MRC) cho biết, giao thông đường thủy trên sông này đang bị ảnh hưởng do mực nước thấp, khiến nhiều tàu bè phải thay đổi lộ trình.

MRC tiếp tục kêu gọi các nước có dự án đập thủy điện trên sông Mê Kông tính toán lại quy hoạch và dự án thủy điện.

Trong bối cảnh thủy điện bộc lộ nhiều yếu điểm như vậy, các chuyên gia nhận định, việc Campuchia chuyển hướng sang đa dạng hóa nguồn điện từ năng lượng tái sinh và không xây thêm đập thủy điện dọc sông Mê Kông là bước đi vô cùng hợp lý, giúp bảo vệ môi trường sinh thái và gìn giữ nền văn hóa gắn liền với dòng sông này của người dân.

Nguồn: TTXVN
http://nangluongvietnam.vn/news/vn/nhan-dinh-phan-bien-kien-nghi/thay-gi-trong-chinh-sach-dien-gio-mat-troi-thay-the-thuy-dien-o-campuchia.html

IEA dự báo khả quan về năng lượng tái tạo

Năm 2019, các công trình mới về năng lượng tái tạo trên toàn thế giới dự kiến sẽ tăng trở lại với mức tăng hai chữ số so với năm 2018, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho biết hôm 20-9-2019.

Năng lượng tái tạo tăng trở lại

Trong năm 2019, công suất điện mặt trời, điện gió và thủy điện trên toàn cầu có thể tăng lần lượt là 113,7 GW, 57,6 GW và 17,8 GW, theo ước tính mới nhất của IEA. Nhìn chung, các công trình lắp mới năng lượng tái tạo có thể tăng gần 200 GW trong năm 2019, cao hơn khoảng 12% so với năm 2018.

Điện mặt trời đang có sự tăng trưởng nhanh chóng, mức tăng công suất mới ước tính là 17% trong năm 2019, so với tốc độ lắp đặt vào năm 2018. Sự không chắc chắn ở thị trường khổng lồ Trung Quốc sẽ được bù đắp bởi sự tăng trưởng mạnh mẽ không chỉ ở châu Âu (đặc biệt là Tây Ban Nha) mà còn ở Việt Nam, Nhật Bản, Ấn Độ và Mỹ, IEA cho biết.


Một công trình điện mặt trời đang được lắp đặt ở Pháp.

Mặt khác, điện gió trên bờ đang có sự tăng trưởng mạnh nhất kể từ năm 2015 về công suất lắp đặt mới, với ước tính 52,9 GW được lắp đặt vào năm 2019, cộng với 4,7 GW công suất điện gió ngoài khơi, là nhờ thị trường Mỹ, nơi các nhà khai thác đang đẩy nhanh việc phát triển các dự án trước khi chính sách ưu đãi tín dụng, thuế ở cấp liên bang kết thúc.

Theo Kịch bản bền vững của IEA, công suất năng lượng tái tạo phải tăng trung bình hơn 300 GW/năm trong giai đoạn 2018 đến 2030 mới đáp ứng được các mục tiêu của Thỏa thuận Paris (giữ nhiệt độ trái đất không tăng quá 20C).

Sự phát triển của điện mặt trời và điện gió thường được nhấn mạnh, nhưng chúng vẫn chỉ chiếm 1,8% và 4,4% sản lượng điện toàn cầu trong năm 2017, theo dữ liệu mới nhất của IEA, trong khi đó than chiếm 38,3%, thủy điện chiếm 16,3%.

Sự đóng góp của ngành điện trong quá trình chuyển đổi năng lượng sang ít phát thải carbon là có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, tỷ lệ năng lượng phi hóa thạch trong hỗn hợp điện toàn cầu vào năm 2018 vẫn không thay đổi so với mức đạt được 20 năm trước, theo đánh giá thống kê mới nhất về năng lượng thế giới của BP công bố vào tháng 6-2019.

Năm 2018, lần đầu tiên tăng trưởng công suất năng lượng tái tạo được lắp đặt đã “đình trệ” kể từ năm 2001, lý do vì sự thay đổi trong chính sách ưu đãi cho năng lượng mặt trời ở Trung Quốc, nhằm hạn chế chi phí và quản lý tốt hơn việc tích hợp sản xuất năng lượng mặt trời trong lưới điện. Tốc độ tăng tốc trên thị trường điện mặt trời ở Trung Quốc vẫn không chắc chắn trong năm 2019, IEA cho biết.

Ngày 19-9-2019, Chính phủ Nga thông báo quyết định chi 725 tỉ rúp (1,1 tỉ USD) cho chương trình phát triển năng lượng tái tạo đến năm 2050. Trong đó, 400 tỉ rúp sẽ chi vào giai đoạn

2025-2030, điện gió 222 tỉ rúp (3 GW), năng lượng mặt trời 148 tỉ rúp (2,2 GW) và 30 tỉ rúp cho thủy điện nhỏ (170 MW).

Năng lượng tái tạo – Bao nhiêu là đủ?

Sản lượng năng lượng tái tạo đã tăng gấp 4 lần trên thế giới trong 10 năm qua. Nhưng điều đó vẫn không ngăn được lượng khí thải tăng lên, theo một báo cáo được công bố trước hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc về khí hậu ngày 6-9-2019.

Đầu tư cho điện gió, điện sinh khối, thủy điện, nhất là điện mặt trời, đạt được hơn 2.500 tỉ USD từ năm 2010 đến nay nhờ chi phí giảm, theo báo cáo thường niên do Trường Tài chính và quản lý Frankfurt và Bloomberg Tài chính năng lượng mới (BNEF) phối hợp với Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) thực hiện.

Theo báo cáo này, không tính các đập thủy điện lớn hơn 50 MW, năng lượng tái tạo hiện có công suất 1.650 GW (so với 414 GW năm 2009) và tạo ra 12,9% sản lượng điện toàn cầu vào năm 2018. Báo cáo liệt kê 30 quốc gia đã đầu tư hơn 1 tỉ USD vào năng lượng tái tạo trong giai đoạn này, đồng thời vẫn sử dụng rộng rãi nhiên liệu hóa thạch. Quốc gia đầu tư lớn nhất từ trước đến nay, Trung Quốc, nước phát thải CO2 lớn nhất thế giới, đã chi 760 tỉ USD cho năng lượng xanh kể từ năm 2010.

Kể từ năm 2009, chi phí để xây dựng các nhà máy điện mặt trời đã giảm 81% và điện gió trên bờ giảm 46%. Điều này giúp tăng khả năng cạnh tranh một cách ngoạn mục. Đối với Francoir d’Estais, thuộc UNEP, điều đó cho thấy sự chuyển đổi của ngành năng lượng đang được thực thi, nhưng nó không đủ nhanh để cho phép thế giới đáp ứng các mục tiêu về khí hậu và sự ấm lên của trái đất.

Năm 2018, năng lượng xanh đã giúp giảm được 2 tỉ tấn CO2 phát thải, báo cáo cho biết. Tuy nhiên, phát thải của ngành năng lượng nói chung cũng đã đạt mức kỷ lục 13,7 tỉ tấn CO2 tương đương, khiến thế giới càng rời xa các mục tiêu về khí hậu.

Theo Petrotimes.vn
https://nangluongquocte.petrotimes.vn/iea-du-bao-kha-quan-ve-nang-luong-tai-tao-551369.html