Cạnh tranh và đổi mới: Doanh nghiệp cần sử dụng hiệu quả nguyên vật liệu

Theo số liệu thống kê, các nước công nghiệp trên thế giới đang sử dụng từ 31 – 74 tấn vật liệu/người/năm. Trong tương lai, khả năng tiếp cận những nguồn tài nguyên này càng trở nên khó khăn hơn. Do đó, sử dụng hiệu quả nguyên vật liệu được xem như một yếu tố quan trọng trong cạnh tranh và đổi mới. 

Tình hình sử dụng tài nguyên của nền kinh tế thế giới.

Từ năm 1980 đến năm 2005, 4 nhóm tài nguyên (bao gồm những vật liệu được sử dụng) là: nhiên liệu hóa thạch; quặng kim loại; khoáng sản công nghiệp, xây dựng; và sinh khối (từ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản).

Biểu đồ cho thấy việc khai thác những nguồn tài nguyên thay đổi đều trong vòng 25 năm, từ 40 tỷ tấn năm 1980 đến 58 tỷ tấn năm 2005, với tốc độ tăng trưởng tích lũy 45%. Tuy nhiên, tốc độ này phân bố không đều giữa các nhóm vật liệu chính. Khai thác quặng kim loại tăng nhiều nhất (hơn 65%), cho thấy tầm quan trọng liên tục của nhóm tài nguyên này đối với phát triển công nghiệp. Khai thác sinh khối tăng dưới đường cong của các nhóm khác. Do vậy, tỷ lệ những nguồn tài nguyên tái tạo trong tổng khai thác tài nguyên đang giảm trên toàn thế giới.

Hiệu quả sử dụng vật liệu trong sản xuất công nghiệp tập trung vào lượng vật liệu nhất định cần để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Hiệu quả sử dụng vật liệu có thể được nâng cao bằng cách giảm lượng vật liệu chứa trong sản phẩm cuối cùng (giảm trọng) hoặc giảm lượng vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất nhưng lại bị thải bỏ.

 Ba thành phần của sử dụng hiệu quả vật liệu có thể được nhận định như sau:

  • Giảm trọng trong quá trình sản xuất;
  • Giảm thiểu chất thải trong quá trình sản xuất;
  • Tái chế vật liệu trong chu trình sản xuất – tiêu thụ;

Theo chu trình sản xuất – tiêu thụ công nghiệp, hiệu quả sử dụng vật liệu liên quan tới lượng tài nguyên cần thiết để sản xuất ra một lượng sản phẩm nhất định, vật liệu thải sau khi tiêu thụ xong được tái chế và quay trở lại để sản xuất.

Vì sao sử dụng hiệu quả nguyên vật liệu mang lại lợi ích cho doanh nghiệp vừa và nhỏ?

Có rất nhiều ích lợi đem lại từ việc nâng cao hiệu quả sử dụng vật liệu:

Sử dụng hiệu quả sử dụng vật liệu liên quan tới lượng tài nguyên cần thiết để sản xuất ra một lượng sản phẩm nhất định, vật liệu thải sau khi tiêu thụ xong được tái chế và quay trở lại để sản xuất.

Đầu tiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ được sử dụng một cách hiệu quả nhất kéo theo lượng tài nguyên được dự trữ tốt hơn, đảm bảo dễ tiếp cận trong việc sử dụng tài nguyên và có chi phí rẻ nhất, giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sống, do đó những nguồn tài nguyên này sẽ khả dụng cho các thế hệ sau. Việc cạn kiệt các nguồn tài nguyên cản trở sự phát triển, cho nên việc bảo tồn những nguồn tài nguyên này còn đem lại nhiều lợi ích khác.

Thứ hai, giảm nhu cầu sử dụng nguyên liệu thô sẽ làm giảm những tác động của việc khai thác nguyên liệu thô, bao gồm cả những ảnh hưởng về mặt môi trường và xã hội.

Thứ ba là tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải nhà kính. Việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên thì lượng tài nguyên đi vào sản phẩm nhiều hơn dẫn đến định mức tiêu hao năng lượng và nhiên liệu để sản xuất ra một sản phẩm giảm xuống. Và, việc tái chế nguyên liệu có thể tiết kiệm hầu hết năng lượng cần thiết cho tinh chế và xử lý.

 Thứ tư, hiệu quả sử dụng nguyên liệu tăng dẫn đến giảm lượng nguyên liệu thải ra các bãi chôn lấp hoặc đốt, giảm diện tích đất sử dụng, giảm ô nhiễm nước, không khí và các tác động tiêu cực khác từ việc quản lý chất thải.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả thu gom và tái chế chất thải, đặc biệt đối với bao bì đồ uống và túi nhựa có thể làm giảm lượng rác thải ra đất và nước và trong một số trường hợp còn giảm sự tắc nghẽn của hệ thống thoát nước. Trên thực tế, giảm lượng rác vứt bừa bãi nhằm phục vụ cho nhu cầu mĩ quan là một động lực chính cho cơ chế tái chế chất thải đô thị ở nhiều khu vực.

Doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu bằng cách nào?

Phân tích dòng nguyên liệu là một cách tiếp cận hệ thống nhằm mục đích:

  • Đưa ra tổng quan về nguyên liệu được sử dụng trong doanh nghiệp
  • Xác định điểm đầu, thể tích và các nguyên nhân phát sinh chất thải và khí thải
  • Thiết lập cơ sở đánh giá và dự báo cho việc phát triển trong tương lai
  • Xác định chiến lược cải thiện tình hình chung

Cách tốt nhất để xác định mục tiêu là bắt đầu phân tích dòng nguyên liệu trong toàn bộ doanh nghiệp. Đầu tiên, phân tích đầu vào/đầu ra toàn diện sẽ trả lời các câu hỏi sau:

Cạn kiệt các nguồn tài nguyên cản trở sự phát triển, cho nên việc bảo tồn những nguồn tài nguyên này còn đem lại nhiều lợi ích khác.

  • Những nguyên liệu nào được sử dụng trong doanh nghiệp?
  • Bao nhiêu nguyên liệu được chế biến?
  • Giá trị về mặt kinh tế của chúng là gì?
  • Bao nhiêu chất thải và khí thải thải bỏ ra ở cuối quy trình sản xuất?

Mục tiêu là vẽ được một bản đồ rõ ràng về sơ đồ quy trình của công ty nhằm hiểu rõ cách hệ thống vận hành – nghĩa là, ai và cái gì tham gia vào quy trình và làm gì trong quy trình. Bản đồ sẽ giúp hiểu rõ nơi vật liệu được sử dụng và định vị. Dòng quy trình bao gồm cả chuỗi hoạt động thực hiện ở doanh nghiệp và những hoạt động bên ngoài có thể tác động tới công ty, từ những sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp mua, tới những sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.

VNCPC

VNCPC hỗ trợ doanh nghiệp Myanmar thực hiện Chương trình Sử dụng hiệu quả tài nguyên và SXSH

Mới đây, 10 doanh nghiệp tại Myanmar đã được lựa chọn để tham gia Chương trình Sử dụng hiệu quả tài nguyên và Sản xuất sạch hơn (RECP). Chương trình do Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) phối hợp cùng Sofies (Thụy Sỹ) thực hiện.

Các doanh nghiệp này tập trung chủ yếu ở thủ đô Yangon và thành phố Mandalay, với các ngành nghề kinh doanh khác nhau như: chế biến thủy sản, chế biến sữa, nhựa, xi măng, rượu, chế biến gạo, bánh kẹo và khách sạn.

Từ năm 2013, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) bắt đầu xúc tiến hỗ trợ thực hiện Chương trình Sử dụng hiệu quả tài nguyên và Sản xuất sạch hơn bằng các hoạt động như đào tạo, nâng cao năng lực cho các chuyên gia, cán bộ nhà nước và doanh nghiệp.

Chuyên gia VNCPC đánh giá hiệu quả chiếu sáng trong khu vực chế biến sản phẩm tại doanh nghiệp.

Sau khi đào tạo và nâng cao năng lực, dự án đã lựa chọn được 10 doanh nghiệp tại Myanmar để hỗ trợ đánh giá RECP chuyên sâu, do VNCPC phối hợp cùng Sofies (Thụy Sỹ) triển khai. Thời gian thực hiện, từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2018, với 2 đợt đánh giá tại nhà máy và hoạt động tổ chức hội thảo phổ biến thông tin.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất tại Myanmar, đây là lần đầu tiên được tiếp cận với chương trình RECP. Vì vậy, các chuyên gia đều đánh giá rằng: tiềm năng tiết kiệm năng lượng, hóa chất, nước và nguyên vật liệu của các doanh nghiệp là rất lớn.

Theo đó, ngay sau khi nhận được báo cáo tư vấn đợt 1 của các chuyên gia, các doanh nghiệp đã bắt tay ngay vào việc thực hiện các giải pháp đơn giản, với chi phí đầu tư thấp như: bảo ôn, điều chỉnh thông số dây chuyền lạnh, vệ sinh dàn ngưng, điều chỉnh đầu đun nhựa… và đã thu lại được những kết quả rất tích cực. Thậm chí, không ít doanh nghiệp đã lên kế hoạch thay đổi dây chuyền, máy móc sang sử dụng thiết bị có hiệu suất sử dụng năng lượng cao và hiệu quả hơn.

Chuyên gia VNCPC cùng cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp đánh giá hiệu quả hệ thống dàn ngưng lạnh.

Bà Naing Naing Linn – Giám đốc Ban Hiệu quả và Bảo tồn năng lượng – Tổng cục Hợp tác Công nghiệp (Bộ Công nghiệp Myanmar) sau chuyến đi thị sát cùng đoàn công tác đã đánh giá rất cao hiệu quả của chương trình và mong muốn rằng thời gian tới, sẽ có thêm nhiều dự án tiếp tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp Myanmar trong việc Sử dụng hiệu quả tài nguyên và Sản xuất sạch hơn.

VNCPC

Vì sao tiết kiệm nước đang trở thành vấn đề “sống còn” của doanh nghiệp?

Nước là nguồn tài nguyên thiết yếu phục vụ cho đời sống và sản xuất. Mọi ngành nghề, từ nông nghiệp, phát điện và sản xuất công nghiệp cho tới du lịch đều phải dựa vào nước để duy trì và phát triển. Đó là lý do vì sao doanh nghiệp cần phải đặt vấn đề tiết kiệm nước lên hàng đầu.

Tài nguyên nước đang ngày càng khan hiếm

Nước sạch ngày càng khan hiếm và sự khan hiếm này sẽ còn cao hơn trong tương lai. Nước đang giảm về trữ lượng, kém về chất lượng trong khi nhu cầu ngày càng tăng đang là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp và nhà đầu tư, những người đã quá quen thuộc với khái niệm nước sạch, dồi dào và rẻ tiền.

Gia tăng dân số và phát triển kinh tế khiến cho nhu cầu sử dụng nước phục vụ nông nghiệp và công nghiệp ngày càng cao. 2/3 lượng nước trên thế giới là phục vụ cho nông nghiệp và 90% trong số ấy được sử dụng tại các nước đang phát triển. Mức tiêu thụ nước trên toàn cầu dự đoán là sẽ tăng 25% vào năm 2030 do dân số thế giới được dự đoán sẽ tăng từ 6.6 tỉ lên 8 tỉ vào năm 2030 và trên 9 tỉ vào năm 2050.

Gia tăng dân số và phát triển kinh tế khiến cho nhu cầu sử dụng nước phục vụ nông nghiệp và công nghiệp ngày càng cao.

Tại nhiều khu vực, nước đã và đang bị khai thác quá mức. Mực nước ngầm và mực nước tại các sông ngòi ngày càng giảm tại nhiều khu vực do việc sử dụng nước của con người. Các khu vực chịu ảnh hưởng của hạn hán cũng đang gia tăng. Các khu vực được đánh giá là “rất khô hạn” đã tăng lên gấp đôi kể từ những năm 1970. Trữ lượng nước tự nhiên và lưu lượng sông hàng năm cũng ngày càng giảm đặc biệt là ở vùng Bán cầu Bắc do hiện tượng tan chảy bề mặt băng.

Chất lượng nước ngày càng giảm là vấn đề bức xúc hiện nay vì nền sản xuất công nghiệp và nông nghiệp ngày càng phát triển trong khi vẫn thiếu hệ thống xử lý nước thải. Nguồn nước phục vụ nhu cầu uống và sinh hoạt đang bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng.

 Những tác động tới doanh nghiệp khi tài nguyên nước cạn kiệt

  • Giảm lượng nước phục vụ cho doanh nghiệp;
  • Gián đoạn sản xuất khiến lợi nhuận giảm;
  • Tác động tới sự phát triển doanh nghiệp;
  • Mâu thuẫn giữa các cộng đồng địa phương và những đơn vị sử dụng nước.
  • Tăng chi phí mua nước, xử lý nước cấp, phí tài nguyên nước, phí xả thải và phí xử lý nước thải để phù hợp với các quy định ngày càng nghiêm ngặt của pháp luật;
  • Tăng nhu cầu về các sản phẩm và công nghệ tiết kiệm nước.

Những lợi ích từ việc sử dụng nước hiệu quả

Nước sạch ngày càng khan hiếm và sự khan hiếm này sẽ còn cao hơn trong tương lai.

Lợi ích kinh tế:

  • Tiết kiệm nước góp phần giảm chi phí;
  • Giảm phí xả thải, phí thải bỏ nước thải tại các khu vực xử lý của doanh nghiệp hay của khu công nghiệp, giảm chi phí xử lý nước thải;
  • Tiết kiệm nước mang lại cơ hội cải thiện tại các khu vực khác. Ví dụ giảm nhu cầu sử dụng nước đồng nghĩa với việc tiết kiệm điện trong quá trình bơm, giảm các hoá chất sử dụng cho xử lý nước cấp (vôi, phèn,…);
  • Tiết kiệm nước sẽ làm giảm lượng nước thải, do đó, có thể giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường.
  • Giảm chi phí đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải.

Lợi ích môi trường:

  • Ít xảy ra hư hỏng hệ thống nước thải do nguyên nhân quá tải;
  • Bảo vệ hoạt động tự làm sạch của các hệ thống xử lý tự nhiên, ví dụ các ao, hồ hay đầm lầy hạ lưu;
  • Giảm nhu cầu xây dựng đập và bể chứa nước, bảo vệ các dòng chảy tự nhiên, bảo vệ hệ thống sông ngòi và môi trường sống cho sinh vật hoang dã;
  • Giảm nhu cầu lắp đặt trang thiết bị xử lý nước và nước thải;
  • Giảm sử dụng quá nhiều nước mặt và nước ngầm;
  • Giảm nhu cầu về năng lượng trong quá trình xử lý nước thải;

VNCPC

Thiết bị phát hiện mức độ ô nhiễm không khí

Plume Labs là một trong những Công ty khởi nghiệp luôn quan tâm đến chủ đề nhức nhối là ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn. Công ty này đã xây dựng một hệ sinh thái riêng gồm 1 thiết bị đo, 1 bộ API và một ứng dụng mạng xã hội.

Thiết bị đo chất lượng không khí chỉ là một chiếc máy cầm tay nhỏ gọn, với giao diện người dùng đơn giản là 12 bóng đèn LED nhỏ. Nếu đèn phát sáng màu đỏ, nghĩa là không khí xung quanh bạn đang bị ô nhiễm trầm trọng.

Thiết bị được kết nối với các ứng dụng di động thông qua Bluetooth (Ảnh: Plume)

Kết quả đo cụ thể sẽ được gửi đến điện thoại người dùng qua Bluetooth, từ đó có thể biết được nhiều thông tin cụ thể hơn về chất lượng không khí đang hít thở. Xa hơn, ứng dụng này tạo nên một mạng lưới người dùng, qua đó biết được chất lượng không khí trong cả TP hoặc những khu vực khác trên thế giới.

Thiết bị đo đặc biệt hữu ích với những người sống trong các TP phát triển công nghiệp ồ ạt. Chiếc máy này có thể đo được những hạt bụi siêu nhỏ (PM 2.5), khí nito dioxit, ozon, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs), nhiệt độ và độ ẩm không khí. Vì kích thước nhỏ gọn, bạn có thể nhét nó vào túi hoặc treo ở ba lô, xe đạp như một phụ kiện trang sức.

Được giới thiệu tại triển lãm CES năm 2017, nhưng Công ty vẫn chưa thương mại hóa sản phẩm mà chỉ cho người dùng đặt trước và nhận hàng theo từng đợt. Giá cho một chiếc máy đo khoảng 199 USD. Dự kiến, sản phẩm sẽ được bày bán rộng rãi từ tháng 6/2018.

Theo tapchimoitruong.vn

Giáo sư Nhật Bản phát triển cao su có thể tạo và trữ điện

Kunio Shimada, giáo sư chuyên về cơ học thủy khí và kỹ thuật năng lượng của đại học Fukushima (Nhật Bản), đã phát triển được một loại cao su có thể tạo ra điện từ năng lượng mặt trời và động năng, rồi sau đó dự trữ chúng.

Vị giáo sư 53 tuổi này khẳng định đây là loại cao su có tính năng như vậy đầu tiên trên thế giới. Ông đang cố gắng đăng ký bằng sáng chế với phát minh này tại Nhật Bản. Cao su tạo và trữ được điện này có thể được dùng làm da nhân tạo cho người máy, hoặc những tấm pin mặt trời chống sốc.

Shimada đã có thời gian nghiên cứu lâu năm về chất liệu cao su dẫn điện (conductive rubber). Năm 2001, ông đã phát triển Hợp chất chất lỏng có từ tính (Magnetic Compound Fluid), một chất lỏng có chứa nam châm nóng chảy.

Giáo sư Kunio Shimada, người phát minh ra cao su có khả năng tạo và trữ điện – Ảnh: The Japan Times

Và trong lần này, ông pha với cao su tự nhiên để biến hợp chất này từ dạng lỏng thành cao su đặc, phương pháp thông thường là làm nóng nó bằng cách trộn lưu huỳnh vào, nhưng Shimada lại quyết định tiến hành truyền điện. Như vậy, Shimada đã tạo ra được loại vật liệu cao su có khả năng dẫn điện cực cao.

Không những vậy, trong khi pin năng lượng mặt trời hiện tại rất cứng và dễ vỡ khi có lực tác động, cao su dẫn điện khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, những cú sốc hay rung lắc có thể giãn nở, co lại và tạo ra điện từ những tác động này.

Trong nghiên cứu cao su dẫn điện, Shimada được truyền cảm hứng bởi Hideki Shirakawa, giáo sư danh dự của đại học Tsukuba, người có được Nobel hóa học năm 2.000 bằng phát minh polymer dẫn điện, qua đó phá bỏ quan niệm truyền thống cho rằng các chất nhựa dẻo không dẫn điện.

Theo giáo sư Shimada, một trong những thách thức trong phát triển người máy là việc cung cấp năng lượng cho chúng. Trong thời điểm hiện tại, người máy vẫn phải cần đến dây dẫn và pin. Ngoài người máy, công nghệ này còn có thể ứng dụng cho máy bay không người lái, ô tô và tay chân giả.


Phát minh cao su tạo và trữ điện có thể được ứng dụng trong phát triển người máy ­- Ảnh: The Verge

Một quan chức phụ trách công tác phát triển người máy của chính quyền tỉnh Fukushima đánh giá công nghệ mà giáo sư Shimada vừa phát minh có thể làm thay đổi hoàn toàn thiết kế và chi tiết kỹ thuật của người máy.

Giới chức Fukushima có kế hoạch phát triển người máy tại một cơ sở thử nghiệm đặt tại thành phố Minamisoma, bắt đầu từ tháng 4, và họ hy vọng nghiên cứu của ông Shimada có thể thúc đẩy nhiều sáng kiến hơn nữa trong lĩnh vực này.

Theo The Japan Times

Nhiên liệu cho phương tiện giao thông từ dầu ăn đã sử dụng

Theo tin từ Rome, các tàu buýt đường thủy ở “thành phố nổi” Venice của Italia sẽ sớm được sử dụng loại nhiên liệu thân thiện với môi trường được làm từ dầu ăn đã qua sử dụng.

Loại nhiên liệu này, có thể tái chế ở mức khoảng 15%, sẽ được sản xuất tại một nhà máy ở Venice. Nguyên liệu thô để sản xuất loại nhiên liệu này là dầu ăn đã qua sử dụng của các hộ gia đình địa phương.

Bước đầu, chính quyền thành phố sẽ cho dùng thử nghiệm loại nhiên liệu này trong 7 tháng, từ tháng 4 – 10/2018, sau đó sẽ ký một thỏa thuận với Công ty dầu khí quốc doanh Eni, doanh nghiệp vận tải Avm và Công ty dịch vụ công cộng Veritas.

Dầu ăn qua sử dụng trở thành nhiên liệu cho các phương tiện giao thông thực sự là một giải pháp hữu ích cho việc bảo vệ môi trường.

Nhà chức trách sẽ giám sát mức khí thải trong suốt quá trình thử nghiệm để đi đến quyết định liệu có tiếp tục dùng loại nhiên liệu này về lâu dài hay không.

Công ty Veritas, vốn chịu trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải ở Venice, sẽ chuyển các loại dầu ăn đã qua sử dụng đến nhà máy tinh chế nhiên liệu sinh học của Eni – nơi các nguyên liệu thô như mỡ và dầu ăn có thể được sản xuất thành một loại nhiên liệu sinh học gọi là dầu “Eni Diesel+.”

Loại nhiên liệu “Eni Diesel+” hiện cũng đã được thử nghiệm cho các xe buýt ở TP. Turin, miền Bắc Italia.

Cuối năm 2016, Venice cũng đã đưa vào sử dụng các loại xe buýt đường thủy chạy điện nhằm hướng tới một ngành vận tải công cộng thân thiện hơn với môi trường.

Tháng 7/2017, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Italia Graziano Delrio cũng đã tuyên bố sẽ sớm cấm các tàu cỡ lớn vào trung tâm lịch sử của Venice.

Theo tapchimoitruong.vn