Tạo điện năng từ dao động nhiệt độ ngày và đêm

Theo nhóm nghiên cứu thuộc Viện Công nghệ Massachusetts, bộ cộng hưởng nhiệt mới có thể cung cấp năng lượng cho các cảm biến từ xa hay bất kỳ thiết bị không nối lưới nào trong nhiều năm liền – chỉ bằng cách sử dụng các dao động nhiệt độ.

Nhiệt độ xung quanh chúng ta thay đổi liên tục trong mọi lúc và dựa vào đây các nhà khoa học đã nảy ra một ý tưởng tuyệt vời. Họ đã tạo ra một thiết bị có thể chuyển đổi những dao động này thành điện để cung cấp cho các cảm biến, thiết bị truyền thông.

Việc thu thập năng lượng được thực hiện thông qua một thiết bị gọi là bộ cộng hưởng nhiệt. Đây là một chiếc máy có khả năng hút nhiệt ở một bên và phát nhiệt ra mặt bên kia. Khi cả hai mặt đạt được sự cân bằng, chúng có thể hút năng lượng dựa vào quy trình nhiệt điện.

Theo nhóm nghiên cứu thuộc Viện Công nghệ Massachusetts, bộ cộng hưởng nhiệt mới này có thể cung cấp năng lượng cho các cảm biến từ xa hay bất kỳ thiết bị không nối lưới nào trong nhiều năm liền – chỉ bằng cách sử dụng các dao động nhiệt độ. Cơ chế này giống như sự lên xuống nhiệt độ giữa ngày và đêm.


Thiết bị tạo ra năng lượng từ không khí (Ảnh: MIT)

Ông Michael Strano – một trong những nhà nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi đã nghĩ ra một ý tưởng dường như không tưởng. Đó là tạo ra bộ cộng hưởng nhiệt đầu tiên. Đây là thiết bị mà chúng ta có thể ngồi lên và lấy năng lượng từ thinh không. Trong suốt thời gian này, các biến động về nhiệt độ với tất cả các tần số khác nhau luôn bao quanh chúng ta”.

Trước đây nhiều nhà khoa học đã cố gắng tạo ra năng lượng từ sự thay đổi nhiệt độ thông qua nhiều kỹ thuật khác nhau như hỏa điện. Nhưng phát minh mới này hiệu quả hơn những thiết bị trước ở chỗ: nó có thể được điều chỉnh để thích nghi với các giai đoạn biến đổi nhiệt độ.

Nhóm nhà khoa học đã thật sự tạo được một bước tiến khi kết hợp các vật liệu để sử dụng cho máy cộng hưởng nhiệt: bọt kim loại, graphene và một loại sáp đặc biệt gọi là octadecane. Chất này có khả năng biến đổi thành chất rắn hoặc chất lỏng khi nhiệt độ tăng hay giảm (một cách chính xác thì đây là vật liệu thay đổi theo pha).

Điều này có thể giúp thiết bị mới tiết kiệm năng lượng một cách tối ưu. Nó có sự kết hợp giữa tính dẫn nhiệt (tốc độ mà nhiệt truyền qua vật liệu) và công suất nhiệt (lượng nhiệt có thể được chứa trong vật liệu). Thông thường, các vật liệu có khả năng dẫn nhiệt cao thì lại có sức chứa thấp và ngược lại.


Các nhà khoa học thử nghiệm thiết bị mới (Ảnh: MIT)

Các nhà khoa học đã tiến hành kiểm tra thiết bị với sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày với ban đêm là 10 độ C. Và họ nhận thấy chỉ một mẫu vật liệu nhỏ có thể tạo ra hiệu điện thế là 350 millivolts và công suất điện năng là 1,3 miliwatt. Nguồn năng lượng này đủ để cho các cảm biến nhỏ hoặc các hệ thống truyền thông hoạt động mà không cần pin hay bất kì nguồn năng lượng nào khác.

Hơn nữa, bộ cộng hưởng nhiệt có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, thậm chí trong bóng mát, miễn là có những thay đổi về nhiệt độ xung quanh. Nó thậm chí có thể được lắp đặt bên dưới các tấm pin mặt trời để thu nhiệt – các nhà sản xuất cho biết.

Bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu muốn thử nghiệm nó trên các loại dao động nhiệt độ khác: ví dụ như chu trình bật tắt của chiếc tủ lạnh hay máy móc trong các nhà máy công nghiệp. Một ứng dụng tiềm năng nữa của nó đó là làm hệ thống dự phòng để phát điện khi nguồn năng lượng chính dừng hoạt động.

Thậm chí, loại công nghệ mới này còn có thể sử dụng cho các tên lửa hành trình, và chúng sẽ được nạp pin thường xuyên dựa vào chu trình giữa ngày và đêm. Tuy thiết bị không sản sinh ra nhiều năng lượng như các loại pin và lưới điện hiện hành nhưng nó có thể được ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau.

Nhờ nghiên cứu mới này chúng ta mới biết một thứ tưởng chừng quá đỗi quen thuộc như không khí xung quanh có thể tạo ra năng lượng. Dựa vào đây, các nhà khoa học cũng có thể tiến hành thêm nhiều nghiên cứu về những địa điểm có sự dao động nhiệt độ tối ưu. Nghiên cứu này đã được xuất bản trong tạp chí Nature Communications.

Theo moitruong.com.vn

Sản phẩm xanh và những lợi ích môi trường

Sản phẩm xanh được hiểu là những sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường. Còn lợi ích của sản phẩm xanh là sản phẩm ít chất độc hại có thể giảm thiểu tác động đến công nhân, cải thiện chất lượng không khí trong nhà và giảm ô nhiễm nước.

Các tiêu chí của sản phẩm xanh

1. Sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường. Nếu sản phẩm chứa các vật liệu tái chế thay vì sử dụng vật liệu mới, thô, nó có thể được xem là một sản phẩm xanh. Ví dụ, một sản phẩm tái chế nhanh như tre hay bần (sử dụng để lót nền) là những sản phẩm thân thiện với môi trường vì là sản phẩm đựơc tạo ra từ vật liệu phế phẩm nông nghiệp như rơm hoặc dầu nông nghiệp.

2. Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đến môi trường và sức khoẻ thay cho các sản phẩm phẩm độc hại truyền thống. Ví dụ các vật liệu thay thế chất bảo quản gỗ như creosote, được biết là một hợp chất gây ung thư.

3. Sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng (ít chất thải, sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì). Người tiêu dùng châu Âu nhiều năm qua đã quay lại sử dụng chai sữa thủy tinh và giảm tỉ lệ sử dụng loại sữa đựng trong chai nhựa sử dụng 1 lần rồi bỏ. Chai thủy tinh có thể sử dụng nhiều lần, dễ dàng tái chế.

4. Sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với sức khoẻ. Vật liệu xây dựng thân thiện môi trường là những sản phẩm tạo ra một môi trường an toàn trong nhà, không gian sống bằng cách không phóng thích những chất ô nhiễm quan trọng như sơn có dung môi hữu cơ bay hơi thấp, bám chắc, loại bỏ hoặc ngăn ngừa sự lan truyền chất ô nhiễm như sản phẩm từ sự thông gió hoặc bộ lọc không khí trong máy lạnh (bụi, nấm mốc, vi khuẩn..) và cải thiện chất lượng chiếu sáng.

Với vật liệu thân thiện môi trường, sự chọn lựa sản phẩm được đặt mục tiêu là giảm thiểu ô nhiễm, giảm tiêu thụ tài nguyên và giảm lượng chất thải sinh ra trong quá trình sử dụng sản phẩm. Một phương pháp mua sản phẩm thân thiện môi trường là mua sản phẩm địa phương khi có thể. Sản phẩm được mua từ nguồn địa phương hoặc khu vực sẽ giảm chi phí vận chuyển và thúc đẩy kinh tế địa phương.

An toàn và giảm ô nhiễm

Một khái niệm khác là thiết kế xanh. Ở đây, sự chọn lựa sản phẩm đặt ra mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm, giảm tiêu thụ tài nguyên và giảm lượng chất thải sinh ra trong quá trình sử dụng sản phẩm.

Tại các nước đã có rất nhiều sản phẩm thân thiện với môi trường nhằm đáp ứng các nhu cầu của người tiêu dùng xanh.

Theo các nhà chuyên môn, một trong những cách mua sản phẩm xanh là chọn sản phẩm địa phương bởi vì khi mua từ nguồn địa phương hoặc gần nhà sẽ giảm chi phí vận chuyển (nghĩa là giảm tiêu thụ năng lượng và giảm tác động đến môi trường trong quá trình vận chuyển), đồng thời thúc đẩy kinh tế địa phương.

Hiện nay, tại các nước đã có rất nhiều sản phẩm thân thiện với môi trường nhằm đáp ứng các nhu cầu của người tiêu dùng xanh. Các sản phẩm này được đóng gói và có logo riêng giúp người tiêu dùng có thể phân biệt và chọn lựa.

Lợi ích khi mua sản phẩm xanh

Chọn những sản phẩm ít chất độc hại có thể giảm thiểu tác động đến công nhân, cải thiện chất lượng không khí trong nhà và giảm ô nhiễm nước. Mua sản phẩm tẩy rửa xanh với các nồng độ và bao bì có thể trả lại nhà sản xuất giúp giảm thiểu rác thải bao bì. Mua các chất tẩy rửa ít chất độc hại làm giảm chi phí chất thải khi chúng không được dùng hết và quăng vào thùng rác.

Chuyển từ việc sử dụng các sản phẩm tẩy rửa truyền thống sang các sản phẩm phân hủy sinh học (phân hủy bằng cơ chế vi sinh vật), ít độc tính hoặc các sản phẩm ít độc hại khác có thể giảm đáng kể thông lệ của hoạt động làm vệ sinh mà không làm ảnh hưởng đến hiệu quả làm sạch.

Một số nghiên cứu cho thấy cải thiện chất lượng không khí trong nhà trong môi trường làm việc có thể cải thiện năng suất chung hơn 8%.

Theo moitruong.com.vn

Cần có cơ chế tài chính hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư sản xuất sạch hơn

Sản xuất sạch hơn (SXSH) là xu thế chung của nền sản xuất toàn cầu. Do đó, việc áp dụng các biện pháp SXSH không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn vì lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp (DN). Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn có những hiểu biết chưa đúng về SXSH.

Nhiều DN chưa mặn mà với việc đầu tư cho SXSH, vì cho rằng, đầu tư SXSH làm tăng chi phí sản xuất, không đem lại lợi ích kinh tế mà còn làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm… Nhân dịp Xuân Nhâm Tuất 2018, Tạp chí Môi trường có cuộc trò chuyện với PGS. TS. Trần Văn Nhân – Giám đốc Công ty TNHH Trung tâm SXSH Việt Nam (VNCPC), đơn vị tư vấn, đào tạo và xây dựng mạng lưới các chuyên gia nòng cốt về SXSH trên cả nước để hiểu hơn việc thúc đẩy thực hiện Chiến lược SXSH trong thời gian tới.

PV: Xin ông cho biết đôi nét về hoạt động của VNCPC thời gian qua?

PGS. TS. Trần Văn Nhân: Là một đơn vị thành viên trong hệ thống DN khoa học công nghệ (BK Holdings) của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, trong thời gian qua, VNCPC đã tập trung thúc đẩy áp dụng tiếp cận “Hiệu quả tài nguyên và SXSH” (RECP) vào thực tiễn sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam, nhằm góp phần vào hiện thực hóa mục tiêu “Tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm” – mục tiêu thứ 12 trong 17 mục tiêu Phát triển bền vững do Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc đưa ra. VNCPC đã hợp tác với các đối tác quốc tế và trong nước thành lập liên danh tham gia các đợt tuyển chọn Dự án hàng năm của các nhà tài trợ quốc tế.

Dự án “Sống và làm việc bền vững tại Việt Nam (GetGreen Vietnam)” đã giúp thay đổi hành vi của hàng triệu người tiêu dùng.

Trong những năm qua, chúng tôi đã hoàn thành tốt các dự án: Đổi mới sản phẩm bền vững (SPIN) ở Việt Nam, Lào và Campuchia do trường Đại học Công nghệ Delft chủ trì với sự hợp tác của UNEP, VNCPC, AITVN, LNCCI và CCPO tài trợ bởi Liên minh châu Âu (EU) (4/2010 – 4/2014); Dự án “Sống và làm việc bền vững tại Việt Nam (GetGreen Vietnam)” do trường Đại học công nghệ Delft chủ trì với sự hợp tác của VNCPC và AITVN, tài trợ bởi EU (4/2012 – 4/2015); Xây dựng chuỗi cung ứng cá tra bền vững do VNCPC/ĐHBKHN chủ trì với sự hợp tác của VASEP, WWF Việt Nam và WWF Áo, tài trợ bởi EU (4/2013 – 4/2017); Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì nền sản xuất phát thải các bon thấp ở Việt Nam, tập trung vào hai ngành chế biến gạo và cà phê VNCPC hợp tác với Sofies (Thụy Sỹ) do SECO Thụy Sỹ tài trợ thông qua UNIDO (2013 – 2016); Hợp phần “Xây dựng năng lực và đánh giá RECP tại các doanh nghiệp tham gia dự án “Triển khai sáng kiến khu công nghiệp (KCN) sinh thái hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam” do SECO và GEF tài trợ thông qua UNIDO. Hợp đồng ký với UNIDO (2016 – 2018).

PV: Là đối tác tham gia thực hiện Dự án “Triển khai sáng kiến KCN sinh thái hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam tại các KCN đã được lựa chọn”, VNCPC đã triển khai các hoạt động như thế nào, thưa ông?

PGS. TS. Trần Văn Nhân: Thực hiện việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và SXSH là giải pháp cơ bản trong xây dựng mô hình KCN sinh thái. Sự tham gia tích cực của các DN trong KCN vào các hoạt động của Dự án là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công.

Do đó, việc đầu tiên là chọn đúng đối tượng có quan tâm đến hoạt động về nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và SXSH trong số DN hoạt động trong các KCN tham gia. Dự án triển khai tại 3 địa phương, KCN Khánh Phú (Ninh Bình), KCN Hòa Khánh (TP. Đà Nẵng) và KCN Trà Nóc (TP. Cần Thơ). Theo đó, các DN tham gia hoàn toàn tự nguyện dựa theo các tiêu chí: Mức độ hợp tác của DN; Tiềm năng về nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và SXSH; Tác động môi trường do hoạt động của DN gây ra; Điều kiện cơ sở hạ tầng; Tài chính.

Cán bộ VNCPC trực tiếp thu thập các thông tin, dữ liệu từ nhà máy.

Hoạt động đầu tiên về RECP là tập huấn cho cán bộ quản lý và kỹ thuật của DN, cán bộ của ban quản lý KCN được tổ chức tập trung tại từng địa phương. Những cán bộ DN tham gia tập huấn sẽ đóng vai trò nòng cốt nhóm RECP của chính DN mình. Sau đó, các học viên sẽ triển khai thực hiện Chương trình đánh giá RECP tại DN của mình với sự tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia VNCPC. Dự án mong muốn họ sẽ tiếp tục duy trì hoạt động thực hiện RECP tại DN.

Việc thực hiện Chương trình đánh giá RECP tại DN được chia thành 4 đợt, mỗi đợt cách nhau ít nhất 1 tháng. Các chuyên gia của VNCPC làm việc tại DN 2 ngày/đợt, hướng dẫn nhóm RECP thực hành các bước trong phương pháp luận đánh giá RECP một cách hệ thống, theo điều kiện thực tế của từng DN. Bắt đầu từ nhận diện vấn đề và sắp xếp thứ tự ưu tiên cho các vấn đề cần giải quyết → phân tích nguyên nhân → đề xuất giải pháp SXSH → phân loại các giải pháp và nghiên cứu khả thi → thực hiện các giải pháp SXSH → giám sát và đánh giá kết quả, cuối cùng nhân rộng – duy trì kết quả Chương trình.

Đến nay, Dự án đã đào tạo tập trung được 214 cán bộ của 89 DN, 3 Ban Quản lý KCN và đào tạo tại DN cho 240 người. Đồng thời, Dự án đã hoàn thành việc hướng dẫn và hỗ trợ kỹ thuật giúp 46 DN hoàn thành Chương trình đánh giá RECP. Việc thực hiện các giải pháp SXSH mang lại những lợi ích đáng kể về giảm tiêu hao tài nguyên, tác động môi trường và kinh tế, đồng thời góp phần đáng kể vào cải thiện điều kiện làm việc, an toàn sức khỏe nghề nghiệp cho người lao động. Về lâu dài, những kết quả trên sẽ giúp các DN nâng cao được năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Theo đánh giá RECP, tổng đầu tư của 46 DN trong 3 KCN thực hiện các giải pháp SXSH là khoảng 152 tỷ đồng. Trong đó, lợi ích kinh tế khi thực hiện các giải pháp SXSH giúp tiết kiệm 48 tỷ đồng, từ việc giảm suất tiêu thụ năng lượng, nước, nguyên vật liệu và hóa chất phục vụ sản xuất, cụ thể là giảm tiêu hao 9.992.418 kWh điện; 5.040 tấn than, 17 tấn gas và 74 tấn củi và trấu; 184.540 m3 nước; 2.669 tấn nguyên vật liệu; và 10,6 tấn hóa chất. Về mặt môi trường, giảm lượng chất thải phát sinh và phát thải hàng năm gồm 184.540 m3 nước thải; 40.737 kg COD; 14.162 tấn phát thải CO2; 2.669 tấn chất thải rắn…

Ngoài những lợi ích trên, kết quả đánh giá RECP cũng cho thấy hiện có các cơ hội tuần hoàn và tái sử dụng chất thải giữa các DN trong KCN (tái sử dụng nước thải sau khi đã được sử dụng đạt loại A của tiêu chuẩn xả thải, hoặc sử dụng nhiệt thải của DN này cấp cho DN khác; sử dụng chất thải rắn của Nhà máy giấy để sản xuất ra một sản phẩm phụ hữu ích…).

PV: Tuy nhiên hiện nay, rào cản lớn nhất đối với SXSH ở Việt Nam chính là do các DN chưa nhận thức được lợi ích của việc áp dụng SXSH vào sản xuất kinh doanh. Để các DN Việt Nam quan tâm hơn đến SXSH, theo ông Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ, ưu đãi gì?

PGS. TS. Trần Văn Nhân: Để các DN quan tâm hơn đến SXSH, bên cạnh các cơ sở pháp lý, cần có biện pháp quảng bá rộng rãi các kết quả thực hiện SXSH của DN đi trước như một “tư liệu marketing”. Ngoài những giải pháp SXSH có thể thực hiện ngay do không đòi hỏi DN phải bỏ ra chi phí hoặc chi phí ít, Nhà nước cần quan tâm hơn đến việc xây dựng các nguồn tài chính và cơ chế hỗ trợ DN đầu tư thực hiện các dự án theo Chiến lược SXSH.

Từ thực tiễn hoạt động của Quỹ Ủy thác tín dụng xanh (GCTF) trong 10 năm qua, mà VNCPC là đơn vị tư vấn và điều phối, cho thấy đối với DN vừa và nhỏ thì thiếu nguồn tài chính là một trong các rào cản lớn nhất để đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện hơn với môi trường, được xem là loại giải pháp SXSH mang lại tác động dài hơi nhất. Đồng thời, Nhà nước cũng cần tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế như: thuế, phí… vào quản lý môi trường công nghiệp để tạo động lực mạnh mẽ hơn cho sự thay đổi từ phía doanh nghiệp.

PV: Nhân dịp này ông có đề xuất, kiến nghị gì đối với các cơ quan chức năng?

PGS. TS. Trần Văn Nhân: Theo tôi, để đẩy mạnh việc thực hiện SXSH, Bộ Công Thương cần giám sát và đôn đốc quyết liệt hơn các DN trong thực hiện Chiến lược SXSH trong công nghiệp đến năm 2020 và Kế hoạch hành động của ngành thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh quốc gia. Đồng thời, yêu cầu các DN đưa nội dung thực hiện các Chiến lược này vào Báo cáo kết quả sản xuất – kinh doanh hàng năm. Về phía ngành TN&MT, cần đẩy mạnh việc thi hành nghiêm các quy định của luật pháp về BVMT, tạo ra động lực thúc đẩy các DN áp dụng các giải pháp SXSH, đặc biệt là giải pháp đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện hơn với môi trường.

PV: Xin cảm ơn ông!

Phạm Đình (Thực hiện)

Ô nhiễm không khí còn nguy hiểm hơn cả bệnh di truyền

Mọi người thường sợ hãi trước nguy cơ gia tăng các chứng di truyền thừa kế từ các bậc cha mẹ, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng ô nhiễm không khí nguy hiểm hơn nhiều so với nguy cơ mắc các chứng bệnh do di truyền.

Ô nhiễm không khí làm thay đổi biểu hiện của các gen chứ không phải làm biến đổi các gen. Gây hậu quả tai hại nhất là chất sulfur dioxide. Nó ảnh hưởng đến 170 gen liên quan đến bệnh hen suyễn và các bệnh về tim mạch – theo Motthegioi.

Các nhà khoa học ở Viện Nghiên cứu ung thư tại Ontario (Canada) đã đi đến kết luận trên sau khi phân tích mức độ ô nhiễm ở TP.Montreal và các khu vực kém đô thị hóa hơn ở Canada, cũng như hồ sơ di truyền của hơn 1.000 cư dân địa phương. Các nhà nghiên cứu cũng tính đến sự hiện diện của ni tơ dioxite, sulfur dioxide và ô zôn trong không khí cũng như các hạt rắn có thể xâm nhập sâu vào phổi.

Ô nhiễm không khí làm thay đổi biểu hiện của các gen chứ không phải làm biến đổi các gen.

Kết quả là ở các thành phố lớn tỷ lệ mắc bệnh cao hơn đáng kể so với ở vùng nông thôn. Và sự biểu hiện của các gen, đặc biệt là các gen liên quan đến chức năng của phổi, đã thay đổi nhiều hơn ở nhóm cư dân của các thành phố lớn nơi có tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng.

Hơn 5,5 triệu người chết mỗi năm liên quan đến ô nhiễm không khí

Theo thống kê của Viện Max Planck trên tạp chí Nature, hơn 5,5 triệu người chết mỗi năm do bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí. Bắc Kinh cũng đã 2 lần phát đi báo động đỏ vì những vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng.

Theo thống kê của Viện Max Planck trên tạp chí Nature, hơn 5,5 triệu người chết mỗi năm do bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí.

Thông tin trên Trang Suckhoevadoisong cho rằng ở Việt Nam, với ngưỡng ô nhiễm không khí nghiêm trọng, người dân đang phải đối mặt với những nguy hại trực tiếp đến sức khỏe, đặc biệt tại những khu vực đông dân cư như Hà Nội, TP.HCM. Vậy ô nhiễm không khí đang tiềm tàng gây ra những căn bệnh hiểm nghèo nào?

Tăng huyết áp: Nghiên cứu của các nhà khoa học Đức tìm hiểu ảnh hưởng của không khí ô nhiễm lên huyết áp người dân năm 2000 – 2003 cho thấy loại ô nhiễm này đang là kẻ thù giấu mặt của bệnh tim – căn bệnh đang có xu hướng gia tăng ở cư dân đô thị. Khi tiếp xúc với ô nhiễm không khí trong một thời gian dài, huyết áp tăng lên rõ rệt. Ở nữ giới, bệnh tăng huyết áp do ô nhiễm không khí cao hơn ở nam giới. Thống kê cho thấy có khoảng 10 triệu người Việt Nam mắc bệnh tăng huyết áp trong năm 2014 và con số này không ngừng tăng lên theo từng năm. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh sẽ gây ra những biến chứng như xuất huyết não, suy thận, xuất huyết võng mạc…

Tự kỷ và bệnh tâm thần phân liệt: Theo một nghiên cứu mới đây thì việc tiếp xúc sớm với ô nhiễm không khí gây ra các biến đổi có hại ở não, tương tự như những gì chúng ta quan sát được ở bệnh tự kỷ hay tâm thần phân liệt. Một nhóm nghiên cứu đến từ ĐH Rochester, Mỹ đã thí nghiệm trên 40 con chuột trong 270 ngày khi đặt chúng giữa môi trường ô nhiễm mức độ trung bình như mức độ ô nhiễm ở một thành phố. Kết quả cho thấy não chuột lớn dần lên, khiến tế bào não bị tổn thương, mà nguyên nhân có thể xuất phát từ ô nhiễm không khí, hậu quả dẫn đến căn bệnh tự kỷ và rối loạn tâm thần. Đối với con người, tâm thần phân liệt khiến người bệnh rối loạn khả năng tư duy, mất ý thức muốn làm việc, dần dần trở nên cách ly với xã hội.

Béo phì: Các nhà khoa học Trung Quốc mới đây kết luận rằng hít thở thường xuyên không khí ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình chuyển hóa gây ra các bệnh tiểu đường, béo phì. Một nghiên cứu được thực hiện trước đó tại miền Nam bang California cũng cho thấy nơi có mật độ dân số cao và không khí ô nhiễm nặng nề, chỉ số cân nặng của người dân thường cao hơn so với các khu vực khác. Một nghiên cứu khác được thực hiện tại New York cũng chỉ ra ô nhiễm không khí ảnh hưởng xấu đến việc mang thai cũng như chứng béo phì ở trẻ em. Tại Việt Nam khoảng 25% người trưởng thành mắc bệnh béo phì. Và tình trạng thừa cân, béo phì ở người trưởng thành đang có xu hướng ngày càng phổ biến. Nguyên nhân có thể có nhiều nhưng không thể loại trừ nguyên nhân do ô nhiễm không khí.

Viêm tai giữa: Không khí ô nhiễm, bụi bẩn, sống trong môi trường khói thuốc là những yếu tố làm tăng nguy cơ viêm tai giữa, đặc biệt là ở trẻ em. Tại bệnh viện Nhi Đồng 1, số bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh viêm tai giữa tăng lên từng năm, từ 441 trường hợp năm 1996 vào lên 1.999 trường hợp vào năm 2005.

Viêm tai giữa nếu không được điều trị có thể gây thủng màng nhĩ, nhiễm trùng, dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như viêm màng não, viêm tắc tĩnh mạch, gây tê liệt dây thần kinh số 7.

Làm gì để giảm ô nhiễm không khí?

Trước tình trạng “mở mắt đã ngửi thấy mùi ô nhiễm” tại các thành phố lớn, chúng ta cần làm gì để ô nhiễm không khí không còn là nguyên nhân gây bệnh hàng đầu?

Hãy thực hiện những việc hết sức đơn giản như đeo khẩu trang khi ra ngoài, sử dụng nước muối sinh lý để nhỏ mắt, vệ sinh mũi sau khi đi ra ngoài.

Trước hết, hãy thực hiện những việc hết sức đơn giản như đeo khẩu trang khi ra ngoài, sử dụng nước muối sinh lý để nhỏ mắt, vệ sinh mũi sau khi đi ra ngoài. Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đại tiểu tiện, thay quần áo và tắm gội ngay khi về nhà.

Đóng cửa kính khi đi xe ô tô, đóng kín cửa tại các khu tập trung đông dân. Hạn chế ở ngoài trời vào giờ cao điểm, tránh tập thể dục ngoài trời khi mức độ ô nhiễm cao. Tận dụng không gian quanh nhà để trồng thêm cây xanh nếu có điều kiện. Trồng cây xanh ở nơi có mật độ dân cư đông sẽ giúp cải thiện chất lượng không khí khi nó hấp thu khí độc như NO2, CO2, CO.

Ai cũng biết ô nhiễm môi trường ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng con người. Nhưng dường như việc tự cá nhân đi khám chữa bệnh do ô nhiễm thì dễ dàng hơn toàn thể nhân loại chung tay bảo vệ môi trường. Con người chúng ta mới chỉ dừng ở mức nhận thức, đến lúc bắt đầu hành động thì có lẽ đã quá muộn rồi!

Theo moitruong.com.vn

Thử nghiệm thành công tàu không xả khí thải, thân thiện với môi trường

Đoàn tàu chở khách mang tên Coradia iLint, không xả khí thải của Đức đã đưa vào chạy thử nghiệm thành công và được kỳ vọng là một bước ngoặt thay đổi toàn bộ ngành đường sắt trên toàn thế giới.

Cụ thể, đầu tháng 3/2017, tàu hỏa Coradia iLint được hoàn thiện và bắt đầu các thử nghiệm ban đầu ngay tại nhà máy của công ty Alstom ở miền Bắc nước Đức, trên đường ray thử nghiệm Salzgitter với vận tốc khoảng 80 km/h. Sau đó, các kỹ sư của Alstom tiếp tục cải tiến và hoàn thiện để nó đạt vận tốc lên tới 140 km/h vào đầu năm 2018, trên tuyến đường sắt Buxtehude – Bremerhaven – Cuxhaaven.

Các nhà sản xuất cho biết, với bồn chứa đầy hiđrô, Coradia iLint có thể chạy được từ 600 – 800 km/ngày.

Trong suốt quá trình thử nghiệm ban đầu, Coradia iLint đã được kiểm tra an toàn đối với tất cả các hệ thống để xác định sự ổn định và kết hợp hoàn thiện giữa các hệ thống với nhau, giữa pin lithium ion và nhiên liệu, giữa hệ thống phanh bằng khí nén và điện.

Theo đó, Coradia iLint di chuyển được là nhờ những khối pin lithium ion rất lớn, nhận năng lượng từ thùng nhiên liệu hydro đặt trên nóc con tàu. Khi khí hiđrô được đốt cùng ôxi sẽ tạo ra một nguồn năng lượng lớn và sản phẩm cuối cùng của phản ứng cháy này là nước. Hydro là một sản phẩm phụ từ ngành công nghiệp, rất thích hợp để tái sử dụng. Trong tương lai, Alstom dự kiến sẽ thay thế khí hydro từ sản phẩm phụ công nghiệp bằng khí hydro được tạo ra bằng năng lượng tái tạo, từ gió tự nhiên.

Các nhà sản xuất cho biết, với bồn chứa đầy hiđrô, Coradia iLint có thể chạy được từ 600 – 800 km/ngày, tùy thuộc vào việc vận chuyển hành khách, hàng hóa, hay như có nhiều điểm dừng, độ dốc cao hoặc đặc điểm địa hình khiến mức tiêu thụ năng lượng nhiều hơn.

Ưu điểm nổi bật nhất của Coradia iLint là không xả khí thải mà chỉ có hơi nước và nước ngưng tụ, nên nó sẽ góp phần giảm tối đa các chất thải công nghiệp, góp phần BVMT. Ngoài ra, khi hoạt động, Coradia cũng không gây ra tiếng ồn, hiệu suất hoạt động rất cao và an toàn.

Theo tapchimoitruong.vn

Biến dầu ăn thành vật liệu cứng hơn thép

Các nhà khoa học Úc vừa tạo ra vật liệu Graphene từ dầu ăn có rất nhiều đặc tính ưu việt, nó cứng hơn thép 200 lần, cứng hơn cả kim cương nhưng lại vô cùng linh hoạt.

Tạp chí Science Alert dẫn một báo cáo của các nhà khoa học Úc cho biết, họ đã tìm ra cách biến dầu ăn mà con người vẫn dùng hàng ngày thành Graphene, một siêu vật liệu có cực kỳ nhiều ứng dụng. Dưới những điều kiện nhất định, graphene còn có thể biến thành một chất siêu dẫn điện với điện trở bằng không.

Những đặc tính đó của graphene khiến nó có thể được dùng để tạo ra những thiết bị điện tử tốt hơn, các tấm năng lượng mặt trời có hiệu suất cao hơn và thậm chí còn có thể được sử dụng trong y học.

Công nghệ mới của các nhà khoa học Úc cho phép tổng hợp ra được vật liệu Graphene trong điều kiện nhiệt độ phòng thông thường và với nguyên vật liệu chỉ là dầu ăn mà thôi.


Một mảnh graphene được tạo ra từ dầu ăn.

Điều này giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí để sản xuất Graphene so với cách thông thường trước kia. Chi phí để tạo ra loại vật liệu Graphene theo phương pháp cũ tương đối lớn vì chúng phải được tổng hợp trong các loại máy móc thiết bị đặc biệt, có khả năng tạo ra nhiệt độ cực lớn.

Chưa kể tới việc nguyên liệu tạo ra chúng cũng phải có độ tinh khiết rất lớn khiến cho giá thành của những loại vật liệu Graphene trở nên vô cùng đắt đỏ và khó có thể được ứng dụng rộng rãi trong tương lai gần.

Nói về công nghệ sản xuất Graphene bằng dầu ăn, nhà nghiên cứu Zhao Jun Han, đến từ CSIRO (Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation), tổ chức nghiên cứu độc lập của Chính quyền liên bang tại Australia đã cho biết: “Quy trình chế tạo ra loại vật liệu Graphene này rất nhanh chóng, đơn giản, an toàn và có tiềm năng mở rộng trên quy mô lớn. Chúng tôi hi vọng công nghệ duy nhất hiện nay mà chúng tôi đang nghiên cứu này sẽ giúp giảm giá thành sản xuất vật liệu Graphene, tăng tính ứng dụng thực tiễn của loại vật liệu này trong tương lai.”

Vật liệu Graphene với cấu trúc cacbon hình lục giác trải dải vô cùng bền chắc.

Hiện tại, nhóm nghiên cứu đã đặt tên cho công nghệ mới này là GraphAir và theo các nhà nghiên cứu mô tả một cách khái quát thì dầu ăn sẽ được nung nóng trong một ống thủy tinh chịu nhiệt trong khoảng 30 phút để chúng tự phân rã và hình thành các khối cacbon mới.

Những khối cacbon này sau đó sẽ được làm nguội và dàn đều trên những tấm kim loại nickel và tạo thành những tấm nguyên liệu Graphene với độ dày chỉ khoảng 1 nanometre mà thôi (nhỏ hơn 80,000 lần so với sợi tóc của con người).

Nhà nghiên cứu Dong Han Seo, một thành viên trong nhóm sáng chế, cho biết, công nghệ này không chỉ giúp đẩy nhanh quá trình tạo ra vật liệu Graphene mà nó còn giúp tiết kiệm chi phí sản xuất rất nhiều: “Chúng ta nay đã có thể tái chế dầu thải và sử dụng chúng để tạo nên những loại vật liệu vô cùng hữu dụng.”

Theo moitruong.com.vn