Than đá – Thủ phạm làm nóng trái đất

Than đá được coi là nhiên liệu thải ra nhiều khí độc hại nhất với môi trường so với các nhiên liệu hóa thạch còn lại, là thủ phạm số 1 làm nóng trái đất. Các hội nghị quốc tế chống biến đổi khí hậu trước đây đều tập trung kêu gọi giảm tỉ trọng sử dụng than đá. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, đây vẫn là nguồn nguyên liệu sản xuất điện quan trọng.

Thật trớ trêu, Hội nghị quốc tế chống biến đổi khí hậu COP24 Katowice năm nay (diễn ra từ ngày 2 đến 14/12/2018), nhằm xúc tiến hiệp định khí hậu Paris, lại được khai mạc ngay tại một trong những mỏ than Ba Lan. Và, nhà tài trợ chính của COP24 là Tập đoàn Than đá JSW.

Với Hiệp định Paris năm 2015, quốc tế cam kết giới hạn mức tăng nhiệt độ là 20C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Các nhà khoa học nhấn mạnh, từ nay đến năm 2030 phải giảm 50% việc phát thải khí CO2 so với năm 2010. Các nước phát triển cam kết tài trợ 100 tỉ USD/năm từ nay đến năm 2020 cho chính sách khí hậu của các nước nghèo, nhưng nhiều nước đang phát triển đòi hỏi phải cụ thể hóa lời hứa.

Ba Lan – nước chủ nhà COP24 – là một trong những nguồn sản xuất và tiêu thụ than đá bậc nhất tại châu Âu. Than đá là “vàng đen” của quốc gia đông Âu này. Hàng triệu người dân Ba Lan ngày ngày vẫn phải hít khói bụi từ các mỏ than, từ các nhà máy… Nhiều thành phố của Ba Lan có tên trong danh sách những địa danh ô nhiễm nhất của châu Âu. Nhưng người dân Ba Lan không có sự chọn lựa nào khác. Hiện tại, than đá bảo đảm 80% nhu cầu năng lượng cho gần 40 triệu dân Ba Lan.

Cuối tháng 11/2018, Bộ trưởng Năng lượng Ba Lan Krzysztof Tchorzewski thông báo: Mục tiêu vào năm 2030, Ba Lan sẽ giảm tỷ lệ nói trên xuống còn 60%. Cần biết rằng, mục tiêu mà EU đang hướng tới là 30% vào năm 2030. Vẫn theo Bộ Năng lượng Ba Lan, để giảm bớt lệ thuộc vào than đá, Ba Lan cần xây thêm ít nhất 6 nhà máy điện hạt nhân.


Khai thác than tại Ấn Độ.

Trước mắt, Vacxava bị chỉ trích là không có chiến lược năng lượng rõ ràng. Là một quốc gia sản xuất than đá nhưng Ba Lan vẫn phải nhập than của Nga để đáp ứng nhu cầu nội địa. Ngoài ra, Ba Lan dự định mở thêm nhiều mỏ than, xây dựng thêm các nhà máy điện dùng than đá trong thập niên tới.

Theo các tổ chức bảo vệ môi trường, các nhà khoa học, than đá là nguồn gây ô nhiễm, đe dọa sức khỏe con người. Nhưng đối với dân cư thành phố Katowice và của cả vùng Silesia (miền Nam Ba Lan), than đá là huyết mạch của hàng triệu gia đình. Làm việc trong các mỏ than là một truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác, cho dù đây là nghề nguy hiểm. Trong 11 tháng đầu năm 2018, đã có 21 thợ mỏ tử vong dưới lòng đất Silesia.

Nhìn rộng hơn, trên toàn quốc, có 100.000 công nhân Ba Lan làm việc trong các mỏ than. Tuổi thọ của những người thợ mỏ Ba Lan bị rút ngắn hơn ở bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Ba Lan, nhưng điều đó không làm nản lòng những thế hệ trẻ tại Silesia. Giấc mơ của giới trẻ là được làm việc cho JSW.

Với 27.000 nhân viên, JSW là tập đoàn than đá số 1 Ba Lan và là một trong những tên tuổi trong ngành năng lượng của EU. Không ít thợ mỏ người Ukraine, Slovakia, Hungary, Tây Ban Nha sang Ba Lan tìm việc. Giám đốc JSW Daniel Ozon không khỏi tự hào là nhà tài trợ chính quan trọng nhất của COP24. Điều này không khỏi gây bối rối cho nước chủ nhà. Bộ trưởng Môi trường Ba Lan Henryk Kowalczyk đã phải cải chính rằng, JSW chỉ là một trong số những “Mạnh Thường Quân” bên cạnh những tập đoàn năng lượng sạch của Ba Lan, công ty khí đốt quốc gia PGNiG, các ngân hàng và hãng bảo hiểm…

Nhìn sang nước Pháp, vài ngày trước COP24, Tổ chức Oxfam công bố một báo cáo cho thấy, các ngân hàng Pháp vẫn đầu tư vào các nguồn năng lượng hóa thạch như là dầu hỏa, khí đốt và than đá. Báo cáo ngày 24/11/2018 chỉ ra rằng, 6 ngân hàng lớn của Pháp, gồm BNP Paribas, Société Générale, Crédit Agricole, BPCE, Crédit Mutuel CIC và Banque Postale đầu tư 43 tỉ euro vào năng lượng hóa thạch, cao gấp gần 4 lần so với khoản đầu tư vào năng lượng gió và mặt trời. Oxfam báo động: Số tiền đầu tư vào năng lượng bẩn trong năm 2017 cao hơn so với hồi 2016. Ngược lại, khoản vốn tài trợ cho các dự án phát triển năng lượng xanh đang từ 6,8 tỉ euro năm 2016 rơi xuống còn 5 tỉ euro trong năm 2017. 3 năm sau Thỏa thuận khí hậu Paris, 70% các khoản vốn đầu tư của các ngân hàng Pháp đổ vào các nguồn năng lượng hóa thạch.

Thị trường than đá lớn nhất thế giới là châu Á. Năm 2017, nhu cầu tiêu thụ than đá trên hành tinh đã tăng lên trở lại sau 2 năm sụt giảm. Trung Quốc tuy là một nguồn sản xuất quan trọng nhưng vẫn phải nhập than của nước ngoài để đáp ứng nhu cầu của “công xưởng sản xuất thế giới” và 1,5 tỉ dân.

Theo thẩm định của Cơ Quan năng lượng quốc tế (IEA), trong 2 năm 2017 và 2018, Bắc Kinh cho các nhà máy điện sử dụng than đá hoạt động hết công suất, nhưng Trung Quốc có khuynh hướng từng bước giảm mức độ lệ thuộc vào than đá. Ngược lại, Ấn Độ và nhiều nước Á châu khác như Philippines, Indonesia, Malaysia… sử dụng than đá nhiều hơn.

Theo dự báo của IEA, từ nay đến năm 2040, tiêu thụ than đá trên thế giới khoảng 5.400 triệu tấn. Trung Quốc, Mỹ và EU có xu hướng ít dùng than đá hơn, nhưng bù lại Ấn Độ và các nước Đông Nam Á sẽ lấp vào chỗ trống ấy, bởi than đá là một nguồn năng lượng rẻ. Đó không là một tin vui đối với trái đất. Năm 2017, 40% thải khí carbon đã hâm nóng bầu khí quyển do than đá gây nên.

Khi các nhà máy nhiệt điện trên thế giới đua nhau nhả khói, một trong những giải pháp cộng đồng quốc tế đang hướng tới là thu giữ carbon thải ra. Với những phương tiện hiện tại, thế giới có thể “nhốt” 2,4 triệu tấn carbon 1 năm, con số quá nhỏ, bởi để thực hiện Thỏa thuận chống biến đổi khí hậu Paris, nhân loại phải thu giữ được 350 triệu tấn carbon 1 năm.

Theo dự báo của IEA, từ nay đến năm 2040, tiêu thụ than đá trên thế giới khoảng 5.400 triệu tấn. Trung Quốc, Mỹ và EU có xu hướng ít dùng than đá hơn, nhưng bù lại Ấn Độ và các nước Đông Nam Á sẽ lấp vào chỗ trống ấy, bởi than đá là một nguồn năng lượng rẻ.

Theo S.Phương/petrotimes.vn

Đột phá mới trong việc biến ánh sáng mặt trời thành nhiên liệu

Phương pháp này được đánh giá là hiệu quả hơn so với quang hợp tự nhiên trong việc hấp thụ ánh sáng mặt trời.

Sứ mệnh tìm ra các nguồn năng lượng tái tạo thay thế nguyên liệu hóa thạch đã có bước tiến lớn. Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc phân tách phân tử nước ra thành hai nguyên tố, hydrogen và oxygen bằng cách thay đổi bộ máy quang hợp ở thực vật.

Quang hợp là quá trình thực vật sử dụng ánh nắng mặt trời tạo thành năng lượng. Sau khi cây hấp thụ nước, oxygen được tạo ra. Đây là một phản ứng rất quan trọng đối với hành tinh chúng ta, tạo ra hầu hết lượng oxygen trên Trái Đất.


Nghiên cứu này có thể tạo ra cuộc cách mạng trong việc xây dựng hệ thống sản xuất nguồn năng lượng tái tạo. Ảnh: Clicklancashire.

Một nghiên cứu bởi trường Đại học St John ở Anh đã sử dụng quang hợp bán nhân tạo để sản xuất và lưu trữ năng lượng mặt trời. Bằng các sản phẩm sinh học và công nghệ máy móc, họ đã thành công trong việc sử dụng ánh sáng tự nhiên để biến nước thành hydrogen và oxygen.

Nghiên cứu này có thể tạo ra cuộc cách mạng trong việc xây dựng hệ thống sản xuất nguồn năng lượng tái tạo mới. Trong một bài báo xuất bản trên Nature Energy, phòng thí nghiệm Reisner của trường ĐH Cambridge cũng đã phát triển một nền tảng tách nước mà không cần đến năng lượng mặt trời. Phương pháp này được đánh giá là hiệu quả hơn trong việc hấp thụ ánh sáng mặt trời so với quang hợp tự nhiên.

“Quang hợp tự nhiên không thật sự hiệu quả bởi nó phát triển chỉ để tồn tại. Ngoài ra, nó chỉ cần một lượng năng lượng tối thiểu cần thiết, tầm khoảng 1-2% so với tiềm năng chuyển hóa và lưu trữ của nó”, Katarzyna Sokół, nghiên cứu sinh trường Đại học St John cho biết.

Quang hợp nhân tạo đã xuất hiện cả thập kỉ nay, nhưng chưa thực sự thành công trong việc tạo ra nguồn năng lượng tái tạo bởi còn phụ thuộc vào các chất xúc tác, hầu hết lại thường đắt đỏ và độc hại. Vì thế nó chỉ mới có thể thực hiện trong phòng thí nghiệm chứ chưa thể công nghiệp hóa.

Nghiên cứu từ Cambridge là phần nổi của tảng băng chìm trong lĩnh vực quang hợp bán nhân tạo. Nghiên cứu đặt mục tiêu phá vỡ giới hạn của quang hợp nhân tạo toàn phần bằng cách sử dụng enzym để tạo ra những phản ứng mong muốn.

Sokól và cộng sự không chỉ cải thiện được năng lượng sinh ra và giữ lại, mà còn kích hoạt lại quá trình quang hợp đó trong tảo biển đã ngủ yên cả thiên niên kỉ.

“Hydrogenase là một enzym có trong loại rong này. Nó có khả năng giảm proton xâm nhập vào Hidro. Xuyên suốt lịch sử tiến hóa, quá trình này đã ngừng hoạt động bởi không thật sự cần thiết cho việc sinh tồn. Nhưng chúng tôi đã thành công trong việc bỏ qua những phần không hoạt động để đạt được các phản ứng mong muốn, như việc tách nước thành hydrogen và oxygen”, Sokól giải thích.

Sokól hi vọng thành tựu này có thể phát triển những hệ thống mô hình đổi mới trong việc chuyển đổi năng lượng mặt trời.

“Thật thú vị khi chúng ta có thể lọc chọn quá trình cùng những phản ứng mong muốn nhưng tự nhiên lại không làm được. Đây là nền tảng tuyệt vời để phát triển công nghệ năng lượng mặt trời. Hướng tiếp cận này có thể kết hợp nhiều phản ứng với nhau, sau đó xây dựng các công nghệ năng lượng mặt trời tổng hợp một cách mạnh mẽ hơn”, Sokól cho biết.


Thí nghiệm với cấu hình 2 điện cực cho thấy các tế bào quang điện có phản ứng với ánh sáng mặt trời nhân tạo. Ảnh: Katarzyna Sokół.

Đây là mô hình đầu tiên thành công trong việc sử dụng hydrogenase (Hidro enzym) và Photosystem II để tạo ra hệ thống quang hợp bán nhân tạo sử dụng năng lượng mặt trời thuần túy.

Tiến sĩ Erwin Reisner, trưởng phòng thí nghiệm Reisner, thành viên trường St John thuộc Đại học Cambridge, một trong những tác giả của bài báo mô tả nghiên cứu này là một “cột mốc” quan trọng.

Thành tựu này vượt qua nhiều thử thách, đặc biệt trong việc kết hợp những sản phẩm sinh học, organic thành các vật liệu không còn vô cơ. Từ đó tổ hợp lại thành những thiết bị bán nhân tạo, mở ra công cụ phát triển cho hệ thống chuyển đổi năng lượng mặt trời trong tương lai.

Theo Zing.vn (23/12/2018)

VNCPC tham gia hội thảo giới thiệu tài liệu hướng dẫn về khu công nghiệp sinh thái

Ngày 21/12, tại Tp.HCM, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) đã phối hợp tổ chức Hội thảo giới thiệu tài liệu hướng dẫn kỹ thuật: Thực hiện khu công nghiệp sinh thái.

Hội thảo đã thu hút sự tham gia của 40 đại biểu đến từ các khu công nghiệp và các đơn vị có liên quan. Đặc biệt là sự có mặt và phát biểu tại lễ khai mạc của ông Navneet Chadha, trưởng bộ phận Hiệu quả Tài nguyên khu vực châu Á – Thái Bình Dương của IFC, bà Vương Minh Hiếu –  Đại diện vụ Quản lý các Khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Bà Vương Minh Hiếu –  Đại diện vụ Quản lý các Khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) 

Khu công nghiệp sinh thái: Xu hướng tất yếu

Tính đến cuối năm 2017, Việt Nam có 326 khu công nghiệp (KCN), các khu công nghiệp có vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư nước ngoài, tăng trưởng xuất khẩu, đóng góp vào GDP và tạo việc làm.

Song các khu công nghiệp cũng tiêu thụ tài nguyên và phát sinh nhiều chất thải, gây ra những tác động tiêu cực tới môi trường và cộng đồng. Khu công nghiệp sinh thái (KCNST) ngày càng được công nhận là một công cụ hiệu quả để giúp khu công nghiệp phát triển một cách bền vững.

Bà Vũ Tường Anh – Đại diện Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC)

Về bản chất, KCNST là KCN trong đó cộng đồng các doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hạ tầng có tương tác với nhau về sử dụng hiệu quả tài nguyên, tạo ra mạng lưới cộng sinh công nghiệp nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải để tăng hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội cho cả cộng đồng.

Ba yếu tố cơ bản của KCNST bao gồm: quản lý môi trường; hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn ở mỗi doanh nghiệp trong KCN và các mạng lưới cộng sinh công nghiệp giữa các doanh nghiệp cùng hạ tầng xanh của KCN. Mô hình KCNST hiện đã được thực hiện thành công ở nhiều nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Úc và nhiều nước châu Âu.

Cộng sinh công nghiệp trong KCNST “chìa khóa” của phát triển bền vững

Mới đây, Nghị định 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành 22/5/2018 về Quản lý Khu công nghiệp và Khu kinh tế có nêu rõ mục tiêu phát triển khu công nghiệp sinh thái, chính sách khuyến khích phát triển KCNST và các tiêu chí xác định KCNST ở Việt Nam. Việc thực hiện các KCN theo hướng KCNST sẽ góp phần thực hiện Chiến lược Tăng trưởng Xanh của Việt Nam.

IFC đã hợp tác với Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về KCNST nhằm đưa ra các tiêu chí và các bước chuyển đổi cần thiết cho các KCN hiện nay của Việt Nam thành KCNST.

Ông Lê Xuân Thịnh- Giám đốc Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) trình bày tại hội thảo.

Hướng dẫn kỹ thuật này cũng chỉ ra các cơ hội, giải pháp sinh thái cho các KCN ở Việt Nam. Các cơ hội về cộng sinh trao đổi chất thải, tuần hoàn tái chế là giải pháp hiệu quả về mặt môi trường, đồng thời tạo ra các cơ hội kinh doanh mới.

Cụ thể, một KCN tái chế nước thải để sử dụng cho sản xuất có thể giảm được tới 40% lượng nước thải của KCN đó thải vào môi trường, cũng như giảm chi phí nước sạch đầu vào.

Tương tự, cơ hội tận thu nhiệt thải để sản xuất nước nóng và hơi cấp cho các nhà máy trong KCN có tiềm năng giảm sử dụng 20-40% nhiên liệu đốt của một doanh nghiệp trong KCN. Giải pháp cộng sinh công nghiệp trong KCNST cũng là một trong những công cụ thực hành “tuần hoàn kinh tế” để phát triển bền vững.

VNCPC

VNCPC tổ chức hội thảo “Lộ trình thực hiện hướng tới khu công nghiệp sinh thái và các cơ chế tài chính hỗ trợ”

Trong hai ngày 18-19/12/2018, với sự tài trợ của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) trực thuộc Nhóm Ngân hàng thế giới (WB), Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) và Tổ chức Tư vấn Quốc tế Sofies (Thụy Sỹ) đã tổ chức hội thảo “Lộ trình thực hiện hướng tới khu công nghiệp sinh thái và các cơ chế tài chính hỗ trợ” trong khuôn khổ của dự án “Áp dụng mô hình khu công nghiệp sinh thái”, tại Khu Công nghệ cao Tp.HCM (SHTP) và Khu Công nghiệp Sonadezi Long Thành (Đồng Nai).

Bà Vũ Tường Anh, Quản lý dự án của IFC phát biểu tại buổi hội thảo.

Mục đích của dự án là giúp các doanh nghiệp trong KCN và Ban Quản lý/Công ty đầu tư Hạ tầng KCN có những thông tin và xác định các bước triển khai nhằm hướng tới chuyển đổi theo mô hình Khu Công nghiệp Sinh thái (KCNST) theo Nghị định 82-CP ban hành ngày 22/5/2018 của Chính phủ. Bên cạnh đó, dự án cũng góp phần hoàn thiện Hướng dẫn Quốc gia về Thực hiện KCNST trong tiến trình để Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành thông tư hướng dẫn tại các khu công nghiệp, khu kinh tế cũng như các doanh nghiệp liên quan.

Chuyên gia tài chính bà Lê Thu Hoa đang giải đáp các thắc mắc về cơ chế tài chính cho dự án.

Tới dự các hội thảo có sự tham gia của đại diện Ban Quản lý SHTP, Công ty đầu tư Hạ tầng KCN Sonadezi Long Thành, đại diện của các công ty đang hoạt động trong 2 khu công nghiệp. Tại hội thảo, nhóm chuyên gia đã đưa ra một số giải pháp về cộng sinh công nghiệp mang tính khả thi cao cho mỗi khu. Đồng thời trình bày những phân tích sơ bộ về các phương án tài chính để hiện thực hóa các giải pháp. Các đại biểu đã thảo luận sôi nổi và đưa ra các ý kiến bổ sung cho các vấn đề có thể vướng mắc về tài chính, kỹ thuật và đề xuất những phương án thực hiện giải pháp. Bên cạnh đó, một số ý tưởng về cơ hội KCNST mới cũng đã được đại biểu cũng đề xuất để tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới.

Tại khu công nghệ cao Tp.HCM có 2 giải pháp nhận được sự quan tâm đặc biệt và có tiềm năng cao trong việc thực hiện gồm: “Hệ thống năng lượng mặt trời mái nhà” và “Tái chế nước thải để tái sử dụng nước thải cho tưới cây”.

Các đại biểu tham gia thảo luận nhóm tại Khu công nghệ cao Tp.HCM.

Tại khu công nghiệp Sonadeizi Long Thành, các phương án được tập trung thảo luận bao gồm “Hệ thống cấp hơi/nhiệt tập trung” và “Tái chế nước thải làm nước cấp cho sản xuất”. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng thể hiện sự quan tâm đến một số giải pháp khác như: “Xây dựng lò đốt điện – rác tập trung cho KCN”, “Xây dựng khu nhà ở tập trung cho công nhân tại KCN”, “Thu hồi nước mưa để tưới cây”…

Các đại biểu tham gia thảo luận nhóm tại Khu công nghiệp Sonadeizi Long Thành.

Qua hội thảo, sự quan tâm của các doanh nghiệp trong việc thực hiện các giải pháp cộng sinh công nghiệp, hướng tới việc triển khai thực hiện Khu công nghiệp Sinh Thái tại Việt Nam được thể hiện rõ, đó là tiền đề để các giải pháp được thực hiện mang lại lợi ích thiết thực cho bản thân các KCN và các doanh nghiệp hoạt động tại đây, cũng như cho cộng đồng xung quanh.

Bà Nguyễn Lê Hằng – Phó giám đốc VNCPC phát biểu tại hội thảo.

VNCPC với 20 năm kinh nghiệm trong đào tạo nhân lực và tư vấn RECP trong các ngành công nghiệp đã được IFC tin tưởng lựa chọn là đối tác thực hiện dự án này.

VNCPC

Nên chọn pin loại nào khi lắp đặt điện mặt trời áp mái?

Tấm pin là thành phần quan trọng nhất của hệ thống điện mặt trời. Giải pháp điện mặt trời áp mái hiện nay sử dụng 2 loại pin chính là mono và poly.

Monocrystalline (Đơn tinh thể) và Polycrystalline (Đa tinh thể) cả 2 loại đều có khả năng hấp thu quang năng và chuyển hoá thành điện năng. Tuy nhiên, do cấu tạo từ hợp chất đồng nhất nên hiệu suất, khả năng hoạt động của mono sẽ cao hơn poly nếu so về cùng kích thước.

Tuy nhiên, với cùng một mức công suất tấm pin như nhau, ở cùng một địa điểm, mức điện năng tạo ra của 2 tấm poly và mono là tương đương như nhau.


Sự khác nhau của pin mặt trời poly và mono về hình ảnh.

Hiện nay, nhiều khách hàng hiểu lầm về hiệu suất tạo ra nên có xu hướng chọn nhà cung cấp có giải pháp sử dụng tấm pin mono.

Các chuyên gia cho rằng, việc chọn lựa tấm pin, không phụ thuộc vào loại poly hay mono, mà quan trọng là công suất của tấm là bao nhiêu và kích thước thế nào để phù hợp với nhu cầu và vị trí lắp đặt. Bởi mỗi loại có ưu, nhược điểm riêng khó mà có thể đánh giá loại nào tốt hơn loại nào.


Hệ thống pin năng lượng mặt trời.

Trong đó, pin poly có giá thành thấp hơn so với pin mono, mức độ giãn nở và chịu nhiệt cao. Hiệu suất hoạt động của pin poly nằm trong khoảng từ 13-16 không cao bằng pin mono. Ngoài ra, do hiệu suất làm việc ngoài nắng rất cao làm tuổi thọ pin poly giảm so với pin mono trong cùng điều kiện ánh sáng.

Còn pin mono có hiệu suất hoạt động thường ở khoảng 15-20%; độ bền cao, hiệu quả sử dụng dài lâu; hoạt động hiệu quả hơn so với pin poly trong điều kiện ánh sáng yếu. Tuy nhiên, pin mono có giá thành khá cao do quy trình sản xuất tốn kém và hoạt động kém hiệu quả hơn poly trong cùng điều kiện nhiệt độ tăng cao.

Theo Mai Phương/petrotimes.vn (12/12/2018)

Giáng sinh ấm áp và một Năm mới thật nhiều Sức khỏe – Niềm vui – Thịnh vượng!

Nhân dịp Giáng sinh và Năm mới 2018 đang tới gần, VNCPC xin được gửi tới Quý vị lời chúc Giáng sinh ấm áp và một Năm mới thật nhiều Sức khỏe – Niềm vui – Thịnh vượng!

Lê Xuân Thịnh – Giám đốc

Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam