VNCPC khảo sát chuỗi giá trị phụ phẩm nông nghiệp tại ba vùng trọng điểm

Trong khuôn khổ hợp đồng “Tư vấn thực hiện nghiên cứu về chuỗi giá trị chuyển đổi phụ phẩm nông nghiệp thành sản phẩm sinh thái tại khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long”, Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) đã triển khai hoạt động khảo sát thực địa tại ba vùng trọng điểm của Việt Nam.

Hoạt động khảo sát được thực hiện nhằm thu thập thông tin thực tế về hiện trạng phát sinh, thu gom, sơ chế, sử dụng và thương mại hóa các loại phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu, phụ phẩm sắn, vỏ và bã cà phê, xơ dừa cùng nhiều nguồn sinh khối khác. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá tiềm năng phát triển chuỗi giá trị chuyển đổi phụ phẩm nông nghiệp thành các sản phẩm sinh thái theo hướng tuần hoàn, phát thải thấp và thân thiện với môi trường.

Trong quá trình khảo sát, nhóm chuyên gia của VNCPC đã làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp đang tham gia vào hoạt động tận dụng phụ phẩm nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng. Nội dung khảo sát tập trung vào năng lực thu mua và cung ứng nguyên liệu, quy mô hoạt động, công nghệ xử lý và sơ chế, điều kiện lưu trữ, khả năng đáp ứng yêu cầu về chất lượng nguyên liệu, cũng như nhu cầu đầu tư và các khó khăn liên quan đến thị trường, tài chính, chứng nhận và mở rộng quy mô sản xuất.

VNCPC đã làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp đang tham gia vào hoạt động tận dụng phụ phẩm nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng.

Kết quả khảo sát bước đầu cho thấy Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc phát triển chuỗi giá trị phụ phẩm nông nghiệp thành các sản phẩm sinh thái và vật liệu tuần hoàn. Nhiều doanh nghiệp đã bước đầu ứng dụng công nghệ và mô hình sản xuất sáng tạo nhằm tận dụng hiệu quả các nguồn phụ phẩm trong nông nghiệp, góp phần giảm thiểu chất thải và tạo ra giá trị kinh tế mới.

Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc phát triển chuỗi giá trị phụ phẩm nông nghiệp thành các sản phẩm sinh thái và vật liệu tuần hoàn.

Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng này vẫn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà cung cấp nguyên liệu, doanh nghiệp sản xuất, đơn vị đổi mới sáng tạo và các bên liên quan trong chuỗi giá trị. Một số thách thức chính được ghi nhận bao gồm tính mùa vụ của nguồn nguyên liệu, chuỗi cung ứng còn phân tán, hạn chế về liên kết thị trường và khó khăn trong tiếp cận nguồn tài chính phục vụ đầu tư mở rộng sản xuất.

Một số thách thức chính được ghi nhận bao gồm tính mùa vụ của nguồn nguyên liệu, chuỗi cung ứng còn phân tán và khó khăn trong tiếp cận nguồn tài chính phục vụ đầu tư mở rộng sản xuất

Thông qua hoạt động khảo sát thực địa, VNCPC sẽ tiếp tục tổng hợp và phân tích dữ liệu nhằm xây dựng bức tranh tổng quan về nguồn cung phụ phẩm nông nghiệp, các tác nhân trong chuỗi giá trị, khoảng trống năng lực và nhu cầu hỗ trợ của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để hoàn thiện thiết kế dự án, xác định các mục tiêu phù hợp và đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị sản phẩm sinh thái từ phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam.

Sản phẩm sinh thái từ phụ phẩm nông nghiệp rất đa dạng và phong phú.

Hoạt động này đồng thời góp phần thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp, giảm phát thải khí nhà kính, hạn chế ô nhiễm môi trường từ phụ phẩm nông nghiệp và tạo thêm cơ hội sinh kế, nâng cao giá trị kinh tế cho doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng địa phương.

VNCPC

Doanh nghiệp phải tái chế hoặc đóng phí môi trường theo lượng hàng bán ra

Nghị định 110/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành đã bổ sung hàng loạt quy định mới về trách nhiệm tái chế đối với doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu. Chính sách này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 25/5/2026.

Theo quy định, các doanh nghiệp đưa bao bì, pin, thiết bị điện tử, dầu nhớt, săm lốp… ra thị trường sẽ phải tự thực hiện tái chế hoặc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.

Siết trách nhiệm xử lý rác thải sau tiêu dùng

Việt Nam hiện phát sinh khoảng 3,5 triệu tấn rác thải nhựa mỗi năm nhưng tỷ lệ tái chế chỉ đạt khoảng 33%. Phần lớn rác thải còn lại có nguy cơ thất thoát ra môi trường, gây áp lực lớn lên hệ thống xử lý chất thải và ô nhiễm tự nhiên.

Trong bối cảnh đó, Nghị định 110 được xem là bước hoàn thiện khung pháp lý về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), buộc doanh nghiệp phải tham gia sâu hơn vào quá trình thu gom và tái chế sản phẩm sau sử dụng.

Doanh nghiệp phải bảo đảm tỷ lệ tái chế tối thiểu dựa trên tổng lượng hàng hóa đưa ra thị trường mỗi năm.

Nhiều nhóm ngành phải thực hiện tái chế bắt buộc

Quy định mới áp dụng cho nhiều nhóm hàng hóa phổ biến như:

  • Bao bì giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh;
  • Điện thoại, máy tính, máy in, thiết bị điện tử;
  • Pin, ắc quy, săm lốp, dầu nhớt…

Ngoài nhà sản xuất trực tiếp, các đơn vị đặt gia công hoặc nhập khẩu ủy thác cũng thuộc diện phải thực hiện nghĩa vụ tái chế.

Tỷ lệ tái chế được quy định cụ thể

Doanh nghiệp phải bảo đảm tỷ lệ tái chế tối thiểu dựa trên tổng lượng hàng hóa đưa ra thị trường mỗi năm.

Một số mức đáng chú ý gồm:

  • Bao bì nhôm, nhựa PET cứng: 22%;
  • Bao bì giấy, carton: 20%;
  • Điện thoại di động: 15%;
  • Máy tính, máy in, photocopy: 9%;
  • Pin sạc, ắc quy chì: từ 8 – 15%.

Theo lộ trình, các tỷ lệ này sẽ được điều chỉnh tăng sau mỗi chu kỳ 3 năm, bắt đầu từ năm 2029.

Doanh nghiệp có thể chọn nộp tiền thay vì tự tái chế

Nghị định cho phép doanh nghiệp lựa chọn giữa hai hình thức thực hiện trách nhiệm:

Tự tổ chức tái chế

Doanh nghiệp có thể tự thực hiện, thuê đơn vị chuyên nghiệp hoặc ủy quyền cho tổ chức trung gian thu gom và tái chế. Báo cáo kết quả phải gửi trước ngày 1/4 hằng năm.

Đóng góp tài chính

Trong trường hợp không trực tiếp tái chế, doanh nghiệp sẽ nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Mức đóng được tính theo khối lượng hàng hóa và định mức chi phí tái chế tương ứng. Hạn cuối nộp là ngày 20/4 hằng năm.

Không chấp nhận tái chế “hình thức”

Một điểm đáng chú ý của Nghị định 110 là yêu cầu rõ về đầu ra tái chế. Hoạt động tái chế phải tạo ra nguyên liệu hoặc sản phẩm có thể tiếp tục sử dụng.

Ví dụ: Bao bì nhựa phải tái chế thành hạt nhựa thương phẩm hoặc sản phẩm mới; Chất thải thủy tinh từ thiết bị điện tử phải được xử lý để làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng.

Các hình thức xử lý đơn giản như nghiền nhỏ hoặc đốt làm nhiên liệu sẽ không được công nhận là hoàn thành trách nhiệm tái chế.

Doanh nghiệp nhỏ được miễn áp dụng

Một số trường hợp được miễn trách nhiệm tái chế gồm: Doanh nghiệp có doanh thu dưới 30 tỷ đồng/năm đối với nhóm hàng thuộc diện áp dụng; Hàng hóa sản xuất để xuất khẩu hoặc tạm nhập tái xuất.

Nghị định 110 được đánh giá là bước đi quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và nâng cao trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp tại Việt Nam.

VNCPC