EU hỗ trợ xây dựng chuỗi giá trị cá tra bền vững ở Việt Nam

Tp Hồ Chí Minh – Hôm nay Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP)  cùng các đối tác khác giới thiệu dự án mới mang tên  “Xây dựng chuỗi cung ứng cá tra bền vững tại Việt Nam” (SUPA).  Dự án có tổng giá trị gần 2,4 triệu EUR, trong đó Liên Minh Châu Âu (EU) tài trợ gần 1,9 triệu Euro thông qua Chương trình EU SWITCH-Asia. Cơ quan chủ trì thực hiện dự án là VNCPC cùng với với các đối tác khác là VASEP, WWF – Việt Nam và WWF – Áo.

SUPA logo - 360-1030

Tới dự Hội thảo về phía các cơ quan Nhà nước có:

–   Ông Nguyễn Huy Điền – Tổng Cục phó Tổng cục Thủy sản – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

–   Bà Dương Phương Thảo – Cục phó Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương

Cơ quan tài trợ:

–   Ông Hoàng Thành – Cán bộ Chương trình môi trường và biến đổi khí hậu – Phái đoàn Châu Âu tại Việt Nam

Các cơ quan thực hiện:

–   Bà Nguyễn Thị Hồng Minh – Nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản, Chủ tịch danh dự Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản VASEP

–   Ông Nguyễn Hoài Nam – Phó Tổng Thư ký VASEP

–   Bà Ngô Thị Nga – Phó Giám đốc Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC)

–   Ông Lê Xuân Thịnh – Quản lý dự án SUPA

–   Ông Ngô Tiến Chương – Điều phối Chương trình WWF – VN

–   Bà Sabine – Điều phối Chương trình WWF – Áo

Hội thảo đã diễn ra rất tốt đẹp với sự quan tâm của gần 200 đại biểu từ các cơ quan quản lý của Trung ương và địa phương, các nhà nhập khẩu, các doanh nghiệp chế biến, nuôi, sản xuất thức ăn, các cơ quan tư vấn và nghiên cứu trong lĩnh vực cá tra.

Phát biểu về dự án, Bà Berenice Muraille, Tham tán về Hợp tác Phát triển của Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam cho biết: “Dự án sẽ giúp nâng cao tính cạnh tranh của cá tra Việt Nam trên thị trường quốc tế. Thông qua dự án, EU sẽ hỗ trợ trực tiếp toàn bộ chuỗi cung ứng cá tra từ khâu ươm, sản xuất thức ăn nuôi và chế biến của Việt Nam đến các nhà xuất nhập khẩu và người tiêu dùng cuối cùng nói chung, trong đó có EU, hiện đang là thị trường lớn nhất cho xuất khẩu cá tra Việt Nam”.

Dự án sẽ được thực hiện trong 4 năm từ 2013 đến 2017, tập trung vào nâng cao năng lực, thúc đẩy việc sản xuất có trách nhiệm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thiểu tác động môi trường và giảm chi phí sản xuất thông qua áp dụng phương pháp luận Sử dụng tài nguyên có hiệu quả và Sản xuất sạch hơn (RE – CP), cải tiến sản phẩm và phát triển thị trường. Dự án cũng giúp trao đổi thông tin, hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các nhà sản xuất quy mô hộ gia đình áp dụng các tiêu chuẩn bền vững hiện hành như ASC, Global GAP, v.v, hướng tới sản xuất bền vững nhằm nâng cao tính cạnh tranh của ngành cá tra trên thị trường thế giới.

Đóng góp ý kiến cho buổi Hội thảo bà Nguyễn Thị Hồng Minh trao đổi: Đây là dự án lần đầu tiên ở Việt Nam thực hiện theo chuỗi cung cho ngành cá tra. Dự án đã đưa ra rất nhiều các hoạt động hỗ trợ trong đó quan trọng nhất là hỗ trợ xúc tiến thị trường và nâng cao hiệu quả cho doanh nghiệp thông qua áp dụng sản xuất sạch hơn. Dự án nên cùng với các doanh nghiệp dẫn đầu thiết kế tạo ra dòng sản phẩm mới dựa trên sản phẩm truyền thống nhưng có chất lượng nổi bật đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu.

Phát biểu tại Hội thảo đại diện của Tổng Cục Thủy sản (Bộ NN và PTNT) và Cục Xuất nhập khẩu (Bộ CT) cũng rất ủng hộ dự án này coi như là một hình mẫu để có thể nhân rộng cả chiều rộng lẫn chiều sâu và rất tin tưởng sau khi dự án kết thúc sẽ đóng góp một phần vào trong quá trình phát triển bền vững chuỗi cung ứng cá tra của Việt Nam.

Giới thiệu nội dung dự án

Giới thiệu nội dung của dự án

Các đại biểu tham dự hội thảo

Các đại biểu tham dự hội thảo

Bà Nguyễn Thị Hồng Minh đóng góp ý kiến

Bà Nguyễn Thị Hồng Minh đóng góp ý kiến

Đại diện của các bên tham gia dự án trả lời các câu hỏi liên quan

Đại diện của các bên tham gia dự án trả lời các câu hỏi liên quan

Ông Nguyễn Huy Điền – Tổng Cục phó Tổng cục Thủy sản phát biểu tại Hội thảo

Ông Nguyễn Huy Điền – Tổng Cục phó Tổng cục Thủy sản phát biểu tại Hội thảo

Các đại biểu đang chia sẻ thông tin và đóng góp ý kiến cho Hội thảo

Các đại biểu đang chia sẻ thông tin và đóng góp ý kiến cho Hội thảo

Admin VNCPC

UNEP hối thúc phát triển thương mại xanh toàn cầu

Báo cáo “Thương mại và Kinh tế Xanh: Xu hướng, Cơ hội và Thách thức” của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) công bố ngày 8/5 tại Geneva cho thấy, thương mại xanh toàn cầu là một trong những xu hướng quan trọng giúp đạt được mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu và các nước đang phát triển có lợi thế rất lớn trong việc thúc đẩy xu hướng này.

Ảnh minh họa: todaynewsline.com

Giám đốc điều hành UNEP kiêm Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc Achim Steiner cho biết hiện nay thương mại xanh đang đối mặt với những thách thức to lớn, do sự bùng nổ các giao dịch hàng hóa và dịch vụ có giá trị lớn trên thế giới.

Tuy nhiên bên cạnh đó, loại hình thương mại mới này cũng đang có những cơ hội phát triển rất tốt nếu các nước đảm bảo được cân bằng đa dạng sinh học, giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, ngăn chặn xói mòn đất và bảo vệ các đại dương.

Theo thống kê, trong hai thập kỷ qua, hoạt động thương mại tiếp tục mở rộng đã tạo đà thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giúp xóa đói giảm nghèo ở nhiều nước đang phát triển. Tuy nhiên, việc gia tăng kim ngạch thương mại cũng đang gây ra những sức ép nhất định tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm gia tăng lượng khí thải và nới rộng khoảng cách phát triển xã hội.

Chịu ảnh hưởng nhiều nhất là những nước đang phát triển, vốn phải phụ thuộc rất nhiều vào việc khai thác, sử dụng và xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, để đảm bảo phát triển bền vững, các quốc gia này cần phải biết nắm bắt cơ hội phát triển kinh tế xanh và biết cách khai thác các lợi thế riêng trong bối cảnh đang có sự gia tăng mạnh nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ xanh trên toàn cầu.

Cũng theo UNEP, mặc dù hiện tại các sản phẩm xanh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong thị trường thương mại toàn cầu, nhưng nhu cầu đối với các hàng hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường sẽ có xu hướng tăng mạnh trong thời gian tới.

Dự kiến, thị trường toàn cầu đối với các sản phẩm sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, tạo ra hàm lượng khí thải carbon thấp sẽ tăng gấp ba lần quy mô hiện nay vào năm 2020, đạt khoảng 2.200 tỷ USD.

Theo TTXVN

Trung tâm Sản Xuất Sạch Hơn (VNCPC) kỷ niệm 15 năm thành lập

 

Bộ trưởng Bộ KH & CN Nguyễn Quân phát biểu tại hội thảo

(Vfej.vn) – Sáng 18/4 tại Hà Nội, Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) đã phối hợp với Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) tổ chức Hội thảo “Hướng tới xã hội sản xuất và tiêu thụ bền vững thông qua thực hiện hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn”.
Tại hội thảo, các chuyên gia đã trao đổi thông tin và kinh nghiệm đạt được trong áp dụng sản xuất sạch hơn và xây dựng các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ bền vững tại Việt Nam trong những năm qua. Trong bối cảnh “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” vừa được thông qua tháng 9/2012, hội thảo đề xuất định hướng cho các hoạt động về Sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP) phục vụ chiến lược phát triển bền vững của đất nước.
Phát biểu tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân cho biết: Trong 20 năm qua, Việt Nam đã có sự tăng trưởng ngoạn mục với tốc độ cao, tuy nhiên, đi kèm sự tăng trưởng đó là sự hạn chế trong công tác bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Do đó, cùng với sự giúp đỡ của UNIDO và các tổ chức quốc tế khác, hoạt động sản xuất sạch hơn đã được triển khai, phần nào đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững của Việt Nam.

Chính vì vậy, Nghị quyết 41 NQ/TW ngày 15/11/2004 đã định hướng cho công tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay là “”coi phòng ngừa ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo, kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên” đảm bảo sự phát triển bền vững. Để hỗ trợ kịp thời cho Việt Nam kiến thức và kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong công nghiệp, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng phát triển bền vững, VNCPC được thành lập nhằm hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất sạch hơn.

Tại hội thảo nhân kỷ niệm 15 năm thành lập của VNCPC, các chuyên gia trao đổi thông tin và kinh nghiệm đạt được trong quá trình áp dụng sản xuất sạch hơn và xây dựng các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ bền vững tại Việt Nam trong những năm qua. Trong bối cảnh ”Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” được thông qua hồi tháng 9/2012, hội thảo đề xuất định hướng cho các hoạt động về sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn phục vụ chiến lược phát triển bền vững của đất nước. Thực tiễn gần 20 năm xúc tiến áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp cho thấy sản xuất sạch hơn đã áp dụng thành công ở các doanh nghiệp. Thực hiện tốt việc áp dụng sản xuất sạch hơn vào điều hành hoạt động của các doanh nghiệp chắc chắn sẽ là một yếu tố quan trọng trong phát triển công nghiệp xanh, góp phần thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh ở nước ta trong những năm tới.

PGS.TS Trần Văn Nhân, giám đốc VNCPC phát biểu tại hội thảo

PGS.TS Trần Văn Nhân cho biết VNCPC đã áp dụng tiếp cận ngành, phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội, tập đoàn và tổng công ty các ngành công nghiệp để lựa chọn doanh nghiệp triển khai trình diễn kỹ thuật và xây dựng năng lực cho các doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn.

Tính đến năm 2009, đã có trên 250 doanh nghiệp trực tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật của VNCPC. Các doanh nghiệp này đã thu được các lợi ích khá ấn tượng về kinh tế và môi trường từ áp dụng sản xuất sạch hơn trong năm tham gia trình diễn kỹ thuật.

Tổng giá trị lợi ích kinh tế nhờ tiết kiệm nguyên, vật liệu, nhiên liệu và năng lượng của các doanh nghiệp là 9,7 triệu USD/năm, trong khi tổng đầu tư cho thực hiện các giải pháp sản xuất sạch hơn là 4,7 triệu USD. Đồng thời các doanh nghiệp này cũng đã giảm được trung bình từ 20 – 50% nước thải và khí thải, 10 – 40% chất thải rắn. Sản xuất và tiêu dùng bền vững là khái niệm đã xuất hiện từ đầu thập niên 90 trên thế giới nhưng tại Việt Nam khái niệm này mới phổ biến trong vài năm trở lại đây.

Sản xuất và tiêu dùng bền vững được định nghĩa là việc sử dụng các dịch vụ và sản phẩm vừa đáp ứng nhu cầu và nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa giảm thiểu lượng tài nguyên và nguyên liệu độc hại sử dụng, cũng như giảm phát thải và gây ô nhiễm môi trường trong suốt vòng đời sản phẩm, dịch vụ để không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ mai sau.

Nhân dịp này, ông Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ, đánh giá cao những nỗ lực, thành tựu mà VNCPC đã đạt được trong 15 năm qua, đã đóng góp chung vào sự nghiệp khoa học công nghệ, phát triển bền vững của đất nước.

Theo Vfei.vn, 18/4/2013

Túi Sống Xanh Việt Nam

Ngày 19/1/2012, 60 túi không dệt của dự án Sống xanh Việt Nam đã vượt hàng trăm cây số đến với ngày hội No Impact Day tại trường THCS Hàm Nghi, Huế. Tại đây, chiếc túi màu xanh có thể gấp lại tiện lợi này đã trở thành một trong những phần quà được ưa thích đối với các em học sinh.

No Impact Day có các hoạt động như đạp xe quanh thành phố với các banner tuyên truyền (Phân loại rác, sử dụng khăn thay cho khăn giấy, sử dụng giấy hai mặt, tắt đèn khi ra khỏi phòng, 500 năm và 5s khi sử dụng túi nilon…), tái chế đồ vật thành vật có ích gây quỹ, và xem các clip về chủ đề mua sắm bền vững.

Hào hứng với phần đổi túi nilong, vỏ chai lấy tập vở và túi sinh thái

Niềm vui khi đã đổi được túi sinh thái

Các sản phẩm tái chế của các em học sinh

Nằm trong khuôn khổ dự án “Giáo dục vì Phát triển bền vững” của Trung tâm Phát triển Sáng kiến Cộng đồng và Môi trường, chương trình “Em học sống xanh” có mục đích thay đổi hành vi của các em học sinh, duy trì hành động lâu dài hướng tới một lối sống bền vững.

Chương trình thiết kế như một môn học ngoại khóa với 34 tiết học trên 10 chủ đề như Rác, Nước, Sức khỏe, Mua sắm, Thực vật, năng lượng, Mối quan hệ xã hội… nhằm giúp các em học sinh sau khi rời khỏi lớp học có một mối quan tâm tới thiên nhiên, mối quan hệ tốt với gia đình bạn bè và cộng đồ, từ đó có những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường.

Theo website getgreen.vn 

Hành lang pháp lý cho tín dụng xanh

Dường như các tổ chức tín dụng nằm hơi xa vấn đề bảo đảm môi trường trong các dự án. Tuy nhiên, nếu đó là một cơ chế ràng buộc với điều kiện cơ bản trong quyết định cho hay không cho vay vốn thì chắc chắn môi trường sẽ trở thành vấn đề quan tâm của các nhà đầu tư. Đó cũng là cách hiểu đơn giản nhất về tín dụng xanh. Ở Việt Nam, hành lang pháp lý cho tín dụng xanh đã có hay chưa? Và, tín dụng xanh đã phát huy như thế nào với vấn đề phát triển và môi trường?

GCTF-tin dung xanh

  Nguồn: tindungxanh.tk

Chưa quy định

Pháp luật hiện hành chưa có một quy định hay hướng dẫn nào đối với việc các ngân hàng phải cân nhắc đến những rủi ro về môi trường và an sinh xã hội trước khi cấp tín dụng. Văn bản pháp lý cao nhất quy định về các hoạt động bảo đảm an toàn môi trường là Luật Bảo vệ môi trường với nguyên tắc xuyên suốt là “bảo vệ môi trường gắn hài hòa với phát triển kinh tế” và “bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân”.

Tuy nhiên, luật này cũng chỉ tập trung làm rõ trách nhiệm của khối doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các ngành nghề quan trọng (Điều 35 – 49), ngoài ra không nhắc đến trách nhiệm của ngành tài chính, ngân hàng. Các chế tài về xử lý ô nhiễm quy định trong Luật Bảo vệ môi trường cũng như trong Bộ luật Hình sự – phần quy định về tội phạm môi trường – cũng chỉ áp dụng với các tổ chức, cá nhân trực tiếp gây ô nhiễm.

Trong khi đó, những công cụ chủ yếu để bảo đảm an toàn môi trường là đánh giá tác động môi trường (dự án), đánh giá tác động môi trường chiến lược và cam kết bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc thực hiện, phê duyệt và theo dõi các đánh giá/cam kết này còn nhiều vấn đề phải bàn thêm về tính hiệu quả của nó. Việc đánh giá tác động môi trường chỉ được xem như một việc cần làm để xin giấy phép hoạt động cho dự án thay vì một bước tính toán, cân nhắc về những tác động đến môi trường, xã hội và cách giảm thiểu, khắc phục.

Trách nhiệm của ngành ngân hàng trong việc giúp cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường dường như chưa được quan tâm nhiều, mặc dù họ đóng một vai trò quan trọng trong việc điều tiết và cấp vốn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Trong khi Ngân hàng Nhà nước có vai trò quản lý chung, các ngân hàng thương mại có quyền quyết định sẽ cho và không cho những dự án nào vay vốn theo tiêu chí riêng của mỗi ngân hàng.

Do đó, nếu các ngân hàng có những yêu cầu nhất định đối với các dự án vay vốn khi thực hiện phải bảo đảm những quy định về môi trường và an sinh xã hội thì sẽ góp phần hạn chế các dự án gây ô nhiễm, gây ảnh hưởng xấu đến người dân và khuyến khích các doanh nghiệp hướng tới các hoạt động sản xuất, kinh doanh sạch, an toàn hơn.

Đã có hệ thống quản lý rủi ro

Tín dụng xanh chỉ những khoản tín dụng mà ngân hàng cấp phát cho các dự án sản xuất kinh doanh không gây rủi ro hoặc nhằm mục đích bảo vệ môi trường – xã hội.

Thực tế, một số tổ chức tài chính quốc tế hoạt động tại Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Tập đoàn Tài chính quốc tế (IFC), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã có bộ tiêu chuẩn về môi trường, xã hội mà các dự án và đối tác vay vốn hoặc nhận tài trợ của họ phải tuân theo. Các tổ chức này cũng chịu nhiều áp lực hơn các ngân hàng thương mại trong việc thực hiện trách nhiệm của họ đối với môi trường và xã hội. Chẳng hạn, ADB đã từng bị Mạng lưới sông ngòi Việt Nam gây sức ép trong việc tài trợ cho dự án thủy điện Sông Bung 4 vì không bảo đảm các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội.

Theo khảo sát của Công ty Kiểm toán và Tư vấn tài chính quốc tế (IFC) – 2012, hiện có 3 ngân hàng thương mại Việt Nam có hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội, trong đó có hai ngân hàng sử dụng bộ tiêu chuẩn của IFC (Techcombank, Vietinbank), một ngân hàng (Sacombank) có tham khảo bộ tiêu chuẩn này nhưng cũng xây dựng chính sách riêng của mình.

Một nghiên cứu độc lập của Tổ chức PanNature (Trung tâm Con người và Thiên nhiên) trên 19 ngân hàng thương mại lớn nhất hiện nay cho thấy, các cán bộ ngân hàng chưa thực sự quan tâm đến các rủi ro về môi trường, xã hội khi thẩm định dự án. Theo đó, hầu hết các cán bộ tín dụng chỉ kiểm tra trong hồ sơ xin vay vốn xem có bản đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt hay chưa, một số kiểm tra thêm công nghệ xả thải và kế hoạch di dân.

Hiện, các kênh về tín dụng xanh chủ yếu được tiếp cận qua Quỹ ủy thác tín dụng xanh (GCTF) do Chính phủ Thụy Sỹ (SECO) thành lập tại Việt Nam nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư các công nghệ sản xuất có hiệu suất cao và thân thiện với môi trường. Quỹ được vận hành có sự phối hợp của cơ quan tài trợ SECO, Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam và các ngân hàng ACB, Techcombank và VIB. Theo đó, các doanh nghiệp sẽ được bảo lãnh tín dụng (50%) và hoàn trả một phần (tới 25%) vốn vay ngân hàng để đầu tư cho công nghệ thân thiện với môi trường tùy theo tác động cải thiện môi trường của công nghệ đó.

GCTF logo - 360-1030

Th.s Nguyễn Hồng Anh, Trung tâm Con người và Thiên nhiên đề xuất, cần sớm có chính sách tín dụng xanh. Theo đó, ngoài những hướng dẫn và quy định chi tiết về trách nhiệm là các yêu cầu đối với ngân hàng trong việc cấp phát tín dụng, không nêu những nguyên tắc quá chung chung. Đồng thời, ngành ngân hàng cần phối hợp với các bộ, ngành xây dựng một hệ thống phân loại, đánh giá các ngành nghề và cơ sở gây ô nhiễm để từ đó các ngân hàng cũng có cơ sở để đánh giá khi thẩm định tín dụng và ra quyết định cấp tín dụng.

Mỹ là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới có quy định về trách nhiệm đối với môi trường không chỉ của doanh nghiệp gây ô nhiễm mà còn của các bên liên quan khác, trong đó bao gồm các ngân hàng cho vay vốn cho công trình, dự án gây ô nhiễm. Bên cạnh những nỗ lực của các quốc gia trong việc bảo vệ môi trường, thì Liên Hiệp Quốc (LHQ) cũng có Sáng kiến của Chương trình môi trường LHQ, Nguyên tắc đầu tư có trách nhiệm của LHQ… Đây đều là những cam kết quan trọng trong việc xác định trách nhiệm liên đới của các tổ chức tín dụng trước sự cố môi trường và sẽ là những nguyên tắc Việt Nam có thể tham khảo. Được biết, hiện những vấn đề pháp lý liên quan đến tín dụng xanh (bảo đảm an toàn môi trường, xã hội trong các hoạt động tín dụng) đang được các cơ quan chức năng tiến hành soạn thảo.

Theo Đại biểu nhân dân

Khởi động dự án Sống xanh – Việt Nam