Cộng sinh công nghiệp và những nhầm lẫn thường gặp

Khi nhắc đến cộng sinh công nghiệp (Industrial Symbiosis), nhiều người thường nghĩ đơn giản rằng chất thải của doanh nghiệp này được chuyển giao cho doanh nghiệp khác để sử dụng làm nguyên liệu sản xuất. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong ba nhóm hoạt động cộng sinh công nghiệp theo quy định của Việt Nam. Theo cách tiếp cận quốc tế, cộng sinh công nghiệp còn được xem xét dưới nhiều hình thức đa dạng hơn.

Vậy cộng sinh công nghiệp là gì, có những hình thức nào và dựa vào đâu để xác định một hoạt động hợp tác là cộng sinh công nghiệp?

Cộng sinh công nghiệp không chỉ là trao đổi chất thải

Theo khoản 7 Điều 2 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, cộng sinh công nghiệp là hoạt động hợp tác giữa các doanh nghiệp trong một khu công nghiệp (KCN) hoặc trong các KCN khác nhau nhằm tối ưu hóa việc sử dụng hoặc tái sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra như nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu và các yếu tố khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT, cộng sinh công nghiệp bao gồm ba nhóm hoạt động hợp tác:

  1. Trao đổi các yếu tố đầu vào, đầu ra: Các doanh nghiệp hợp tác trao đổi nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu và các yếu tố khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh, phù hợp với quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
  2. Sử dụng chung hạ tầng phục vụ sản xuất: Các doanh nghiệp hợp tác sử dụng chung hạ tầng do các bên tham gia cộng sinh hoặc bên thứ ba cung cấp, không bao gồm hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội dùng chung của KCN do nhà đầu tư phát triển hạ tầng KCN cung cấp.
  3. Sử dụng chung dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh: Các doanh nghiệp hợp tác sử dụng chung dịch vụ do các bên tham gia cộng sinh hoặc bên thứ ba cung cấp, chẳng hạn như bảo dưỡng thiết bị, kho bãi hoặc đào tạo nhân viên.

Ở góc độ quốc tế, các tài liệu hướng dẫn về KCN sinh thái của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) cũng đề cập đến năm hình thức liên kết công nghiệp, bao gồm:

  • Cộng sinh tiện ích và chia sẻ hạ tầng;
  • Cộng sinh phụ phẩm và trao đổi chất thải;
  • Cộng sinh dịch vụ;
  • Cộng sinh chuỗi cung ứng và bố trí, sắp đặt các doanh nghiệp;
  • Cộng sinh công nghiệp – đô thị.

Như vậy, cộng sinh công nghiệp không chỉ giới hạn ở việc trao đổi chất thải mà còn bao gồm nhiều hình thức hợp tác nhằm tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực giữa các doanh nghiệp.

Không phải mọi giao dịch về chất thải đều là cộng sinh công nghiệp

Giả sử doanh nghiệp A chuyển giao hoặc bán phế liệu cho doanh nghiệp B để làm nguyên liệu đầu vào. Nếu chỉ dừng lại ở hoạt động mua bán thông thường, không có sự phối hợp nhằm tối ưu hóa nguồn lực, thì chưa đủ cơ sở để xác định đây là một mối liên kết cộng sinh công nghiệp.

Có những hình thức nào và dựa vào đâu để xác định một hoạt động hợp tác là cộng sinh công nghiệp?

Để nhận diện và chứng minh hoạt động hợp tác này là cộng sinh công nghiệp, cần xem xét các yếu tố sau:

  • Cơ chế hợp tác rõ ràng, minh bạch: Có thỏa thuận, hợp đồng, biên bản ghi nhớ hoặc tài liệu liên quan chứng minh mối quan hệ hợp tác giữa các bên; làm rõ quyền, nghĩa vụ, yêu cầu kỹ thuật đối với dòng vật liệu trao đổi và cơ chế phân chia trách nhiệm, rủi ro.
  • Hiệu quả sử dụng tài nguyên: Chứng minh khả năng tận dụng chất thải, phụ phẩm của doanh nghiệp A để thay thế nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp B, qua đó xác định lượng nguyên liệu, nước, năng lượng hoặc các nguồn lực được tiết kiệm, tái sử dụng hay sử dụng hiệu quả hơn.
  • Lợi ích môi trường có thể đo lường: Xác định lượng chất thải cần xử lý được cắt giảm, mức giảm phát thải khí nhà kính và các tác động môi trường khác nhờ hoạt động hợp tác, đồng thời tránh chuyển dịch ô nhiễm từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác.
  • Hiệu quả kinh tế đối với các bên: Làm rõ những lợi ích kinh tế mang lại, chẳng hạn giảm chi phí xử lý chất thải cho doanh nghiệp A, giảm chi phí nguyên liệu đầu vào hoặc chi phí vận hành cho doanh nghiệp B.
  • Tác động tích cực về xã hội và cộng đồng: Bảo đảm an toàn, sức khỏe nghề nghiệp cho người lao động, hạn chế rủi ro đối với cộng đồng xung quanh và xem xét khả năng tạo thêm việc làm, giá trị xã hội từ hoạt động hợp tác.

Các lợi ích cần được đánh giá, lượng hóa và chứng minh bằng số liệu, tài liệu phù hợp để xác định hiệu quả thực tế và làm cơ sở theo dõi kết quả triển khai. Đồng thời, hoạt động cộng sinh công nghiệp phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan, đặc biệt là pháp luật về bảo vệ môi trường khi trao đổi, chuyển giao và sử dụng chất thải, phế liệu.

Giá trị của cộng sinh công nghiệp nằm ở sự hợp tác

Cộng sinh công nghiệp không đơn thuần là gắn một tên gọi mới cho các giao dịch giữa doanh nghiệp, mà hướng tới việc chuyển từ tối ưu hóa riêng lẻ sang tối ưu hóa nguồn lực thông qua hợp tác.

Vì vậy, khi nhận diện một cơ hội cộng sinh công nghiệp, câu hỏi không chỉ là: “Doanh nghiệp A có thể cung cấp gì cho doanh nghiệp B?”

Mà quan trọng hơn là: “Các doanh nghiệp hợp tác với nhau như thế nào, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn ra sao và tạo ra những lợi ích gì về môi trường, kinh tế và xã hội?”

Nhận diện đúng bản chất, hình thức và giá trị của cộng sinh công nghiệp là cơ sở để các doanh nghiệp xây dựng những mối liên kết phù hợp, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi các KCN theo hướng sinh thái và phát triển bền vững.

VNCPC