Thúc đẩy tiêu dùng và sản xuất xanh để bảo vệ môi trường

“Cùng với sự gia tăng dân số và sự gia tăng về tiêu dùng của xã hội, Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang đứng trước những thách thức to lớn về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Vì vậy, việc triển khai và áp dụng các chính sách mua sắm xanh ở Việt Nam nhằm khuyến khích sản xuất và tiêu dùng bền vững là một nhu cầu bức thiết”.

Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) – Bùi Cách Tuyến đã nhấn mạnh như vậy tại hội thảo “Khởi động Dự án thúc đẩy tiêu dùng và sản xuất sản phẩm xanh thông qua mua sắm công bền vững và nhãn sinh thái “(SPPEL) – hợp phần Việt Nam, do Tổng cục Môi trường phối hợp với Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) tổ chức ngày 18/2, tại Hà Nội.

Ông Nguyễn Minh Cường – Tổng cục Môi trường cho biết: “Dự án SPPEL sẽ được thực hiện trong 3 năm (2014-2016) tại Hà Nội và một số tỉnh/thành phố của Việt Nam. Mục tiêu của dự án nhằm hỗ trợ các cơ quan chính phủ có thẩm quyền tại Việt Nam xây dựng năng lực và kỹ thuật về xây dựng các chính sách thúc đẩy tiêu dùng (SPP) và sản xuất sản phẩm xanh (NST). Ngoài ra dự án còn hỗ trợ Việt Nam thực thi các chính sách về SPP & NST nhằm đạt hiệu quả cao nhất của việc sử dụng hai công cụ này; tạo ra diễn đàn trao đổi giữa các nhà khoa học, các cơ quan quản lý, các khu vực tư nhân về xây dựng chính sách nhằm đảm bảo lồng ghép SPP & NST trong quá trình ra quyết định. Nguồn kinh phí để thực hiện dự án sẽ  từ nguồn vốn ODA là 248.691 USD, vốn đối ứng là 15.000 USD (bao gồm cả tiền mặt và hiện vật)”.

Dự án sẽ được chia làm 4 hợp phần: Sắp xếp tổ chức thực hiện dự án; Đánh giá thực hiện SPP; Lập kế hoạch xây dựng và thông qua nhóm hành động ưu tiên về SPP và NST được xây dựng và lồng ghép Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất và tiêu thụ bền vững; Triển khai các hoạt động trong khuôn khổ Kế hoạch hành động quốc gia về SPP. Các hợp phần này được thực hiện dưới sự quản lý của Ban điều phối chung giữa UNEP và Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đánh giá về sự cần thiết của việc thực hiện dự án SPPEL, ông Nguyễn Minh Cường cho rằng, tham gia dự án Việt Nam sẽ có được các quyền như: Năng lực cán bộ về xây dựng chính sách mua sắm công bền vững và nhãn sinh thái của các Bộ: Tài nguyên Môi trường, Kế hoạch Đầu tư, Khoa học Công nghệ, Công Thương được tăng cường. Bên cạnh đó, khu vực tư nhân (doanh nghiệp) cũng được tiếp nhận tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật từ các chuyên gia UNEP và Việt Nam thông qua các hội thảo nâng cao nhận thức về xây dựng chính sách về mua sắm công bền vững và nhãn sinh thái.

Luật Bảo vệ môi trường, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 và các văn bản pháp quy khác đều có những quy định khuyến khích áp dụng sản xuất và tiêu thụ bền vững. “Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh” được Thủ tướng Chính phủ đã ban hành ngày 25/9/2012 tại Quyết định số 1393/QĐ-TTg đã nêu rõ: Một trong những giải pháp nhằm đảm bảo tăng trưởng xanh là thúc đẩy tiêu dùng bền vững và xây dựng lối sống xanh, trong đó những nhiệm vụ cần triển khai bao gồm ban hành quy chế chi tiêu công xanh, chi đầu tư và chi thường xuyên của ngân sách nhà nước phải ưu tiên mua sắm và sử dụng hàng hóa dãn nhãn sinh thái, hàng hóa có khả năng tái chế; thúc đẩy dán nhãn sinh thái và phổ biến các thông tin sản phẩm thân thiện môi trường đến toàn xã hội; xây dựng lộ trình từ nay đến 2020 áp dụng mua sắm xanh.

Để triển khai thực hiện tốt Hợp phần dự án SPPEL tại Việt Nam, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, các cơ quan đầu mối của Việt Nam sẽ tham gia vào quá trình xây dựng, thực hiện các hoạt động của dự án, bao gồm: Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Khoa học Công nghệ, Bộ Tài chính. Bộ Tài Nguyên Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa lý, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc, lập bản đồ, biển và hải đảo. Tổng cục Môi trường chịu trách nhiệm thực hiện, triển khai Chương trình Nhãn xanh Việt Nam và phối hợp với các đơn vị nòng cốt là Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Khoa học Công nghệ, Bộ Tài chính./.

Theo ven.vn

 

UNIDO với một số sáng kiến về quản lý chất thải điện tử

Trong hai thập kỷ qua, việc quản lý chất thải điện tử đã được đưa vào chương trình nghị sự của nhiều nước phát triển và đang phát triển và trở thành vấn đề quan trọng cần được giải quyết ở quy mô toàn cẩu. Nhiều quốc gia đã hạn chế việc nhập khẩu chất thải điện tử trên lãnh thổ của mình, tuy nhiên vẫn còn một chặng đường dài để ngăn chặn những tác động của chúng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Chất thải điện tử là các thiết bị điện và điện tử không , còn trong tình trạng sử dụng, trong đó có chứa cả các chất độc hại (thủy ngân, CFC, chì kính, pin…) và các chất có giá trị (vàng, bạc, palladium, bạch kim…). Vì vậy, việc tái chế, tái sử dụng và nâng cấp các thiết bị điện và điện tử cũ phải được xem xét khi đề cập đến vấn đề quản lý chất thải điện tử.
Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới và xử lý các chất thải nguy hại có hiệu lực vào năm 1992 và được phê chuẩn tại Việt Nam vào năm 1995. Công ước quy định, bất kỳ quốc gia nào xuất khẩu các mặt hàng nguy hiểm thì phải đưa ra thông báo trước cho chính phủ của nước nhập khẩu và phải nhận được sự đổng ý nhập khẩu nhưng lại không cấm xuất khẩu chất thải nguy hại đến bất kỳ nơi nào. Công ước đã có tác động mạnh mẽ tới việc kinh doanh chất thải, tuy nhiên các điểu khoản trong Công ước vẫn chưa có các quy định về các mặt hàng cũ và chất thải điện tử.
Năm 1995, một bản sửa đổi bổ sung Công ước Basel đã nhận được sự ủng hộ từ các nước đang phát triển và liên minh của các tổ chức phi chính phủ nhưng nó đã không có hiệu lực do không có đủ số lượng các bên tham gia phê chuẩn. Mục đích của việc sửa đổi, bổ sung là để áp dụng một lệnh cấm chuyển tất cả mặt hàng chất thải nguy hại đến các nước kém phát triển, bao gồm cả các hoạt động tái chế.
Thị trường điện tử ở Việt Nam bùng nổ từ năm 2000 và tăng trung bình hàng năm là 20%. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này đã đặt ra mối đe dọa đối với sức khỏe con người và môi trường. Năm 2010 đã có khoảng 3,86 triệu thiết bị hoặc 114.000 tấn sẽ bị loại bỏ tại Việt Nam. Con số này được dự kiến sẽ cao hơn gấp bốn lần vào nám 2025, đạt 17,2 triệu thiết bị hoặc 567.000 tấn. Trong số chất thải điện tử bị loại bỏ năm 2013, điện thoại di động đứng đầu tiên với 3.295.727 chiếc, tiếp đó là ti vi (1.293.210 chiếc), máy giặt (937.420), tủ lạnh (689.466), máy tính (420.850) và ACS (209.548).
Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2010 tại 3 điểm tái chế chất thải điện tử của Việt Nam là Trang Minh (vùng ngoại ô TP. Hải Phòng), Đông Mai và Bùi Dầu (tỉnh Hưng Yên) đã cho thấy, sự xuất hiện chất polychlorinated biphenyls và chất chống cháy brôm trong sữa của những phụ nữ tham gia tái chế chất thải điện tử không phù hợp hoặc sinh sống ở gần các điểm tái chế đó. Hai chất này đều thuộc loại các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy và sự tích tụ các hợp chất này do bị nhiễm bụi thông qua đường hô hấp và tiêu hóa. Điều đáng lo ngại là hấu hết, hoạt động tái chế chất thải ở Việt Nam vẫn còn thủ công, lạc hậu, bên cạnh đó, công tác quản lý và tiêu hủy chất thải thiếu sự kiểm soát đã tạo ra lượng khí thải độc hại cho môi trường và ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng.
Ở Việt Nam, đã áp dụng các biện pháp nhằm kiểm soát dòng chảy đến của các chất thải điện tử. Trong đó, Nghị định số 12/2006/ NĐ-CP tăng cường lệnh cấm nhập khẩu các thiết bị gia dụng cũ, bao gồm các mục đích nhập khẩu và tái sử dụng trực tiếp. Việt Nam nghiêm cấm nhập khẩu các chất thải điện, điện tử cho việc tái xuất khẩu với mọi mục đích, cũng như các hoạt động tiêu hủy chúng. Luật BVMT được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hanh từ ngày 1/7/2006 đã cải thiện trách nhiệm của các nhà sản xuất điện và điện tử bằng cách buộc họ phải thu hồi sản phẩm của mình khi chúng đã lỗi thời hoặc bị bỏ đi.
Các sáng kiến quốc tế như RoHS đã kiềm chế việc sử dụng các chất độc hại trong các thiết bị điện và điện tử. Trên thực tế, các công ty ở Việt Nam phải tuân theo luật RoHS để tiếp tục xuất khẩu sang các nước châu Âu và ngày càng nhiều nhà sản xuất đã chuyển hướng sang sản xuất xanh hơn và sạch hơn. Tuy nhiên, có một khoảng cách giữa các nguyên tắc trong chính sách và việc thực hiện trên thực tế. Việc buôn lậu các thiết bị điện, điện tử và sự tồn tại của các điểm tái chế không đúng cách đã và đang gây nguy hiểm cho môi trường. Chính phủ Việt Nam nên xem xét, điều chỉnh các quy định về việc lưu thông chất thải điện tử trong một bối cảnh hợp lý. Việc không tính đến nhập khẩu các sản phẩm cũ hoàn toàn không phải là lựa chọn khả thi nhất. Các sản phẩm cũ sẽ trở thành chất thải trung hạn và đó là lý do tại sao các hoạt động tái chế phù hợp nên được phát triển. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua việc chính thức hóa các khu vực tái chế tại Việt Nam. Ba bước đầu tiên cho việc chính thức hóa các hoạt động tái chế sẽ là sự đăng ký của tất cả các cơ sở tái chế; thắt chặt các quy định về chất thải điện tử; thiết lập một khung thời gian đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn.
Triết lý “Best-of-Two-Worlds” là một giải pháp thực tế để xử lý chất thải điện tử tại Việt Nam. Cách tiếp cận này được UNIDO hỗ trợ để tìm cách lồng ghép các lợi thế so sánh của các nước phát triển và đang phát triển trong xử lý chất thải điện tử. Do đó, nó khuyến khích sự kết hợp của quá trình tiền xử lý tốt nhất để tiêu hủy các chất thải điện tử thông thường ở các nước đang phát triển với quá trình hậu xử lý tốt nhất để xử lý các phân đoạn phế thải nguy hiểm và phức tạp ở các cơ sở xử lý tinh vi trên thế giới. Nói cách khác, các phân đoạn có thể tái chế được trong nước cần được xử lý ở cấp địa phương và chỉ có các phân đoạn không thể xử lý được trong nước (như các bộ phận nguy hiểm, màn hình CRT hoặc PWB) sẽ được xuất khẩu sang quốc tế để xử lý và phục hồi lần cuối các kim loại quý (cụ thể là cho PWB). Cách tiếp cận này có ba ưu điểm chính: Đầu tiên nó khuyến khích sự hợp tác tốt hơn giữa các nước phát triển và đang phát triển trong việc xử lý chất thải điện tử. Thứ hai nó làm tăng hiệu suất thu hồi đối với các chất thải quý và có giá trị ở mức độ sơ chế khi phân loại và xử lý thủ công gây tổn thất kim loại ít hơn quá trình cơ học. Thứ ba, việc xử lý phế thải điện tử chứa chất nguy hại tại các cơ sở xử lý phế thải tinh vi hợp pháp trên thế giới làm giảm thiểu các tác động của việc tái chế đối với môi trường. Việt Nam là quốc gia lý tưởng để áp dụng triết lý “Best-of-Two-Worlds” vì nó kết hợp cả chi phí lao động thấp (thiết lập được các xử lý thông thường) và quy mô thị trường hạn chế (cho phép chuyển giao các phế thải điện tử nguy hại tới các cơ sở xử lý có kỹ thuật tiên tiến trên thế giới).
UNIDO có một mạng lưới quốc tế trong lĩnh vực quản lý chất thải điện tử và là một thành viên của Sáng kiến Giải quyết vấn đề chất thải điện tử (STEP). UNIDO đã thực hiện một dự án ở Uganda nhằm xây dựng một hệ thống thu gom và thành lập một cơ sở xử lý thủ công các chất thải điện tử. Mục đích của dự án là thúc đẩy sự hình thành ngành công nghiệp dịch vụ môi trường và góp phẩn gia tăng tuổi thọ các thiết bị điện và điện tử, đặc biệt là máy vi tính. UNIDO cũng hỗ trợ các cơ sở tiêu hủy chất thải điện tử ở Tanzania và Ethiopia mở rộng quy mô hoạt động nhằm giúp họ đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Ở khu vực Đông và Đông Nam Á, UNIDO đang lên kế hoạch thực hiện dự án phát triển các mô hình kinh doanh theo chu trình khép kín với mục đích nâng cao lợi ích chung của các nhà sản xuất và tái chế, đồng thời hướng dẫn việc thu gom, phân loại, chuyển giao và xử lý nhằm loại bỏ các chất thải hữu cơ khó phân hủy có trong các thiết bị điện và điện tử.
Với tình hình chất thải điện tử ở Việt Nam, UNIDO dự kiến sẽ khởi động một dự án mới với sự hỗ trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF). Mục tiêu của dự án tương lai này là thiết lập một hệ thống quản lý môi trường nhằm giảm phát thải thủy ngân và các chất thải hữu cơ khó phân hủy trong công nghiệp để giảm thiểu các rủi ro cho người dân và hệ sinh thái. Chính xác hơn, UNIDO dự kiến xem xét, cập nhật và phát triển các quy định hiện hành về quản lý chất thải điện tử, đồng thời tiến hành một cuộc kiểm kê quy mô quốc gia về thủy ngân, các chất thải hữu cơ khó phân hủy mới có trong chất thải điện tử và giới thiệu các công nghệ hiện có tốt nhất (BAT), các hoạt động môi trường tốt nhất (BEP) cho các doanh nghiệp và các bên liên quan thí điểm nhằm góp phần giải quyết các vấn đề về xử lý chất thải điện tử tại Việt Nam.
​​​​Theo Alice Crochet, Nguyễn Thị Mỹ Hoàng – Văn phòng UNIDO tại Việt Nam

“Mô hình sản xuất nông nghiệp đa chức năng”: Vận hội mới cho ngành thủy sản

Với tiềm năng to lớn, ngành thủy sản sẽ đóng vai trò động lực, đi đầu trong công cuộc đột phá phát triển “Mô hình sản xuất nông nghiệp đa chức năng”, một nội dung quan trọng trong Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Sứ mệnh đặc biệt

Với tổng sản lượng thuỷ sản năm 2013 đạt gần 6 triệu tấn đã giúp nâng bình quân đầu người dân Việt Nam một năm về thuỷ sản lên hơn 66,5kg. Đây là con số có ý nghĩa hết sức đặc biệt đối với đời sống kinh tế – xã hội người Việt Nam hôm nay. Bởi với một nước trên 90 triệu dân, mà tổng sản lượng các loại thịt gia súc gia cầm năm 2013 mới đạt khoảng 4,3 triệu “tấn hơi xuất chuồng”, nghĩa là Việt Nam còn là “quốc gia nghèo” về nguồn thịt thực phẩm. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển thể chất giống nòi. Như vậy, nếu nghèo cả “tôm – cá” ở cả vĩ mô, cả chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chắc chắn không thể kiềm giữ được lạm phát ở mức như hiện nay.

Với nhịp độ tăng trưởng khoảng 5,5%/năm trong 3-4 năm gần đây, theo số liệu Tổng cục Thống kê, tổng sản lượng thuỷ sản năm 2013 lớn gấp gần 2 lần năm 2005. Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá hiện hành từ 63.678 tỷ đồng năm 2005 tăng lên hơn 230.000 tỷ đồng năm 2013, gấp 3,5 lần so năm 2005… Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2013 đã đạt trên 6,7 tỷ USD, loại trừ kim ngạch nhập khẩu, thủy sản xuất siêu trên 6 tỷ USD, trở thành mặt hàng xuất siêu lớn thứ 4 của cả nước và là mặt hàng duy nhất có yếu tố trong nước sau 3 mặt hàng có yếu tố ngoại quốc (điện thoại di động, dệt may-giày dép và dầu thô). Trong đó, đáng chú ý, riêng tôm đông lạnh xuất khẩu từ 1,27 tỷ USD năm 2005 lên gần 2 tỷ USD năm 2013, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới, và cá đông lạnh xuất khẩu (chủ yếu cá tra, cá basa) cũng từ 0,6 tỷ USD năm 2005 lên khoảng 2,5 tỷ USD năm 2013…

Từ các góc nhìn vĩ mô có thể khẳng định, ngành thuỷ sản đang và sẽ là một trong những ngành mũi nhọn sáng giá của nền kinh tế biển Việt Nam, cả hiện tại và tương lai.

Tăng đầu tư, mở rộng liên kết

Đạt được kết quả nêu trên là nhờ sự hỗ trợ to lớn và hiệu quả của Nhà nước, mà tiêu biểu là sự phát triển vượt bậc của đội tàu khai thác hải sản xa bờ với tổng công suất vượt 6 triệu CV, gấp hơn 2 lần năm 2005, theo Tổng cục Thống kê, hiện có khoảng 28.000 chiếc tàu so với 20.537 chiếc năm 2005. Tuy nhiên, những kết quả đạt được, theo đánh giá của các chuyên gia, vẫn chưa tương xứng với tiềm năng biển của Việt Nam.

Hơn 66kg thuỷ sản/đầu người/năm vẫn là con số khiêm tốn so với nhiều quốc gia có biển trên thế giới. Năm qua cả nước đã phải nhập khẩu hàng triệu tấn thức ăn chăn nuôi trị giá hơn 3 tỷ USD, tăng 23,6% so năm trước, trong đó, ngoài ngô, đậu tương, khô lạc thì bột cá luôn là chất liệu chủ lực mà nhập khẩu mỗi năm một nhiều. Có thể nói, ngành chăn nuôi gia súc gia cầm ở Việt Nam chưa phát triển được như mục tiêu kế hoạch đề ra từ hơn 10 năm trước, một phần là do thiếu sự “hậu cần, hậu thuẫn” của ngành thuỷ sản.

Hơn nữa, hiện còn rất thiếu những sản phẩm thuỷ sản chế biến cao cấp, có giá trị gia tăng cao, là những sản phẩm có thể phục vụ đắc lực cho các hoạt động du lịch và xuất khẩu. Nguyên nhân xuất phát từ sự “…thiếu  liên kết, năng suất và chất lượng thấp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt”, đánh giá của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Nhà nước sẽ có cơ chế chính sách thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh CNH nông nghiệp, HĐH nông thôn. Hình thành chuỗi giá trị, bảo đảm hài hoà lợi ích của các chủ thể tham gia từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Từng bước hình thành những tổ hợp nông – công nghiệp – dịch vụ công nghệ cao gắn kết chặt chẽ với người nông dân và hướng tới xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp đa chức năng, phát triển bền vững.

Hiện thực hóa những ý tưởng nêu trên của Thủ tướng Chính phủ, không chỉ ngành trồng trọt, chăn nuôi, mà cả ngành thuỷ sản sẽ có bước đột phá phát triển, đưa nền nông nghiệp Việt Nam tiến lên phát triển toàn diện, bền vững.

Tuy vậy, bên cạnh những chính sách, giải pháp của Chính phủ, rất cần mở rộng liên kết liên doanh, hợp tác đầu tư trong nước, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài, để lấp đầy dần “vùng lõm” trong khu vực nông – lâm – thuỷ sản hiên chỉ chiếm chưa đầy 1,5% tổng vốn FDI tại Việt Nam./.

Theo VEN

Kinh doanh bền vững với công nghệ sạch từ Thụy Điển

​Thụy Điển là quốc gia đi đẩu trong lĩnh vực công nghệ môi trường, nhiều công nghệ tiên tiên ra đời góp phần giảm áp lực lên môi trường, tài nguyên thiên nhiên. Với mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm về quản lý và B VMT với Việt Nam, ngày 18/9/2013, tại Hà Nội, Trung tâm Công nghệ Môi trường Việt Nam – Thụy Điển (CENTEC) đã tổ chức Hội thảo Mô hình Phát triển bền vững của Thụy Điển: Kinh doanh bển vững với công nghệ sạch từ Thụy Điển.
Thụy Điển đã từ lâu tập trung đáu tư phát triển các công nghệ sạch và thân thiện với môi trường. Điểu đáng chú ý một trong những người đi đầu cổ vũ cho phong trào áp dụng công nghệ sạch là nhà vua Thụy Điển Carl-Gustav. Thụy Điển tự hào vẽ 2 dự án “thành phổ phát triển bền vững”, đó là Tomorrow tại Malmo và Hammarby Waterfront tại Stốckhôm, trong đó Malmo có thể coi là một ví dụ điển hình về “thành phố xanh”, bởi 39,9% mức tiêu thụ năng lượng là năng lượng tái tạo – biogas. Ngay từ những năm 1970, khi cả thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng dầu lửa, Thụy Điển đã đầu tư nghiên cứu các công nghệ liên quan đến năng lượng tái tạo. Những công ty lớn của Thụy Điển như Errisson hay Volvo đã và đang nghiên cứu cho ra đời các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Theo bà Camilla Mellander Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam, Thụy Điển và Việt Nam đã có quan hệ hợp tác chặt chẽ trong suốt 44 năm qua. Thụy Điển đã góp phẩn giúp Việt Nam trong công tác xóa đói, giảm nghèo và cải thiện việc sử dụng bển vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thông qua Hội thảo này, Thụy Điển sẽ giới thiệu đến Việt Nam những công nghệ xanh và sạch; kết nối nhu cầu vẽ công nghệ môi trường của Việt Nam tới các đối tác Thụy Điển; hỗ trợ quản lý môi trường bền vững bao gốm sáng tạo mới vế công nghệ cũng như là các giải pháp mang tính hệ thống và tổng thể; tạo ra các cơ hội hợp tác có lợi cho cả hai bên đỗi tác trong lĩnh vực môi trường.
Một sổ công nghệ môi trường nổi bật của Thụy Điển đã được giới thiệu tại Hội thảo như:
  • Công nghệ xử lý nước uống từ các nguồn nước khác nhau thành nước 99,99% tinh khiết của BLAB/ JOSAB. Công nghệ này xử lý nước không sử dụng hóa chất, loại bỏ được vi khuẩn, ký sinh trùng và mầm bệnh có trong nước, giảm kim loại nặng bằng cách trao đổi ion, hấp thu amoniac, nho, nitorat, hydropsunfua, cacbondioxy, ethylen, dầu chuyển hóa.
  • Tiếp đến là công nghệ thu gom và xử lý bùn của KONSEB thực sự thông minh và hiệu quả. Thiết bị có tên ROBOT 90 có thể thu gom bùn trong bất kỳ loại bể chứa hay hổ chứa nào. Thiết bị DAB của KONSEB tách nước từ bùn một cách đơn giản.
  • Ngoài ra còn có công nghệ sấy khô nông sản bằng hệ thống năng lượng mặt trời;
  • Bể phản ứng biogas MR120 của ED BIOGAS AB la một thiết bị phản ứng biogas, nguyên liệu đẩu vào là rác thải hữu cơ, chuyển hóa ra biogas (mê-tan) giúp chạy phát điện hoặc nhiệt hay cấp nước nóng, chất thải còn lại không gây hại cho sức khỏe. Sản phẩm giúp giảm thiểu/loại bỏ yêu cầu vận chuyển rác thải, cung cấp phế phẩm sau phản ứng như phần bón và tiết kiệm đất dùng để chôn lấp rác thải…
Theo tin môi trường, vea.gov.vn

UNEP hối thúc phát triển thương mại xanh toàn cầu

Báo cáo “Thương mại và Kinh tế Xanh: Xu hướng, Cơ hội và Thách thức” của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) công bố ngày 8/5 tại Geneva cho thấy, thương mại xanh toàn cầu là một trong những xu hướng quan trọng giúp đạt được mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu và các nước đang phát triển có lợi thế rất lớn trong việc thúc đẩy xu hướng này.

Ảnh minh họa: todaynewsline.com

Giám đốc điều hành UNEP kiêm Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc Achim Steiner cho biết hiện nay thương mại xanh đang đối mặt với những thách thức to lớn, do sự bùng nổ các giao dịch hàng hóa và dịch vụ có giá trị lớn trên thế giới.

Tuy nhiên bên cạnh đó, loại hình thương mại mới này cũng đang có những cơ hội phát triển rất tốt nếu các nước đảm bảo được cân bằng đa dạng sinh học, giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, ngăn chặn xói mòn đất và bảo vệ các đại dương.

Theo thống kê, trong hai thập kỷ qua, hoạt động thương mại tiếp tục mở rộng đã tạo đà thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giúp xóa đói giảm nghèo ở nhiều nước đang phát triển. Tuy nhiên, việc gia tăng kim ngạch thương mại cũng đang gây ra những sức ép nhất định tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm gia tăng lượng khí thải và nới rộng khoảng cách phát triển xã hội.

Chịu ảnh hưởng nhiều nhất là những nước đang phát triển, vốn phải phụ thuộc rất nhiều vào việc khai thác, sử dụng và xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, để đảm bảo phát triển bền vững, các quốc gia này cần phải biết nắm bắt cơ hội phát triển kinh tế xanh và biết cách khai thác các lợi thế riêng trong bối cảnh đang có sự gia tăng mạnh nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ xanh trên toàn cầu.

Cũng theo UNEP, mặc dù hiện tại các sản phẩm xanh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong thị trường thương mại toàn cầu, nhưng nhu cầu đối với các hàng hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường sẽ có xu hướng tăng mạnh trong thời gian tới.

Dự kiến, thị trường toàn cầu đối với các sản phẩm sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, tạo ra hàm lượng khí thải carbon thấp sẽ tăng gấp ba lần quy mô hiện nay vào năm 2020, đạt khoảng 2.200 tỷ USD.

Theo TTXVN

Xu hướng logistics xanh

Đã có hàng loạt những công bố từ những công ty logistics hàng đầu thế giới rằng công ty của họ là những doanh nghiệp (DN) xanh.

Metrobus, một hệ thống xe buýt nhanh (Bus Rapid Transit – BRT) hoạt động ở trung tâm thủ đô Mexico City, Mexico, mỗi ngày chuyên chở khoảng 450.000 hành khách. Năm 2010, EMBARQ, một tổ chức phi chính phủ chuyên giải quyết các vấn đề của đô thị, đã hướng dẫn cho Metrobus bằng cách nào để thanh toán 114.000 tấn khí CO gây ô nhiễm không khí. Với một tài trợ 500.000 USD và được công ty logistics khổng lồ FedEx tư vấn, EMBARQ đã giúp hệ thống Metrobus mở rộng, thậm chí phát triển một cách hiệu quả. FedEx đã sử dụng kinh nghiệm quản lý chu kỳ hoạt động của các phương tiện vận tải để giúp các quan chức ngành giao thông vận tải ở Mexico City quản lý tốt hơn đội ngũ xe buýt của họ.

Đó chỉ là một trong những cách mà FedEx đang làm để giải quyết các vấn đề về môi trường xảy ra ở những nước mà họ đang hoạt động. Những nỗ lực lâu dài khác nhằm vào chính các hoạt động của FedEx.

FedEx gần đây vừa mới xuất bản báo cáo Cập nhật Công dân Toàn cầu 2010 (2010 Global Citizenship Update) cho thấy những nỗ lực đầu tư liên tục và những thông lệ kinh doanh hiệu quả của họ trong việc sử dụng đội bay Boeing 777F vốn tiết kiệm nhiên liệu hơn hay các xe hoạt động bằng điện nhằm giảm thiểu việc thải khí CO.

Báo cáo của FedEx cũng cho thấy những thành quả khác của họ, gồm cả việc tăng nhận thức về môi trường bằng các tái chế và khuyến khích thói quen sử dụng xe tiết kiệm nhiên liệu. Một trong những chương trình đó là Eco-Driving, thiết kế để giảm thiểu tác động của xe cộ đối với môi trường. Các tài xế của FedEx được hướng dẫn những cách thức để làm giảm thiểu việc thải khí CO vào môi trường bằng các cách như lên ga nhẹ nhàng, lái với tốc độ ổn định và giảm thời gian chạy không tải.

Jeremy Goldstritch, Giám đốc Điều hành của các hoạt động đường bộ của FedEx ở Nhật, nơi chương trình Eco-Driving thực hiện đầu tiên, đã ghi nhận trong báo cáo này: “Sử dụng nhiên liệu là bản chất của DN. Nếu bạn nhận thức được phải làm gì đó với môi trường và rồi hành động từ cấp độ đầu tiên đến cấp độ quản lý, bạn sẽ làm được một sự thay đổi cực lớn”.

Tương tự, công ty UPS, một công ty logistics của Mỹ cũng có những quan tâm đến môi trường nhưng theo một cách khác.

Các công ty cần hoặc muốn giảm tổng lượng khí thải carbon có thể đầu tư vào một dự án tên tuổi “đền bù” (carbon offset)(**) đâu đó. Tương tự, UPS mua một chương trình như vậy từ công ty Carbon Neutral.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Để trở thành một ví dụ điển hình cho việc giảm khí thải carbon, UPS cũng vừa công bố kế hoạch của họ trong việc giúp cho ban nhạc rock The Dave Mathews một chuyến lưu diễn thân thiện với môi trường trong mùa hè năm 2010.

UPS đã tiến hành một tiến trình gồm 3 bước đầy tính “logistics”. Họ đã tính toán giải pháp chuyên chở một sân khấu khổng lồ, toàn bộ thiết bị ánh sáng và các trang thiết bị khác; đo lường lượng toàn bộ lượng khí thải carbon trong từng giai đoạn; và sau đó mua chương trình “đền bù” cho lượng khí thải carbon trong quá trình chuyên chở.

UPS cũng luôn quan tâm đến những gói chương trình phát triển bền vững(***) như là chiến lược của họ. Để giúp nâng cao nhận thức về nhu cầu này, UPS đưa ra chương trình Eco Responsible Packaging, chương trình nhìn nhận các nỗ lực phát triển bền vững từ các khách hàng bằng cách gắn logo của chương trình này cho những lô hàng đạt chuẩn.

Công ty DHL với trụ sở chính ở Đức, một trong những DN hàng đầu của ngành logistics, cũng tham gia vào phong trào logistics xanh này. Với dịch vụ Go Green, công ty cung cấp một tùy chọn cho việc vận tải. Lượng khí CO thải ra từ quá trình vận chuyển sẽ được đền bù bằng các dự án bảo vệ khí hậu như dự án xây dựng một nhà máy phong điện ở Phật Sơn, Trung Quốc. Những đối tác lựa chọn dịch vụ này sẽ có giấy chứng nhận Go Green được gắn trên các lô hàng của họ.

Mới đây DHL đã giới thiệu một dịch vụ mới gọi là Go Green Carbon Dashboard, cho phép khách hàng từ máy tính của họ theo dõi lượng khí carbon thải ra với từng loại hình chuyên chở khác nhau. Dịch vụ này sử dụng một phần mềm do DHL cung cấp tính toán lượng khí thải carbon cho từng lô hàng của họ – những thông tin họ có thể sử dụng để tối ưu hóa chuỗi cung ứng của họ cũng như đạt được mục tiêu là giảm lượng khí thải carbon.

Một cải tiến cũng được DHL áp dụng là chương trình Smart Trucks, lựa chọn đường đi ngắn nhất và nhanh nhất cho các tài xế dự trên các kỹ thuật nhận hàng và giao hàng thông minh. Có thể giảm đến 15% tổng khí thải bằng cách giảm quãng đường di chuyển. Chương trình này đang được áp dụng ở những thị trường mới như Ấn Độ, một thị trường rất đông dân cư và cũng gây “nhức đầu” với những vụ kẹt xe ngày càng tăng.

Những động thái ban đầu của các DN cho một ngành logistics xanh cũng đồng hành với nhận thức ngày càng tăng về những gì có thể tác động lên môi trường khi vận chuyển hàng hóa từ nơi này sang nơi khác.

Trong một cuộc phỏng vấn bằng email với tạp chí mạng Eco-Business, ông Paul Graham, CEO của chuỗi cung ứng DHL ở châu – Á Thái Bình Dương cho biết khách hàng khắp nơi trên thế giới bắt đầu nhận ra sự quan trọng của một ngành logistics xanh và việc có lợi về chi phí về lâu dài. Trong một nền kinh tế, ngành logistics sẽ là đầu tàu trong việc giảm thiểu khí carbon.

Theo một bảng thăm dò ý kiến từ DHL, có khoảng 63% các DN khách hàng xem lĩnh vực vận tải là nơi chính để giảm thiểu lượng khí thải carbon. Hơn 2/3 trong số hoặc hoặc đang theo đuổi những chương trình giảm thiểu khí thải hoặc đang có dự định làm chuyện đó.

Ô. Graham cũng đề cập đến Trung tâm chuỗi cung ứng bền vững (Sustainable Supply Chain Centre) vùng châu Á – Thái Bình Dương được thành lập năm vừa rồi do DHL và Viện Logistics châu Á – Thái Bình Dương ở Singapore như là một ví dụ cho sự quan tâm đến sự phát triển bền vững của ngành logistics trong vùng châu Á.

Nhưng, ông nói, những bước khởi đầu trong việc phát triển bền vững của ngành logistics đã mất đi phần nào động lực do hậu quả của suy thoái kinh tế và sự bất ổn định của nhiên liệu hóa thạch và nguyên liệu thay thế.

Giám đốc Điều hành của Viện Logistics và Chuỗi cung ứng (Supply Chain& Logistics Institute) ở Georgia, Mỹ – Giáo sư Donald Ratliff – cũng đồng ý sự phát triển bền vững của ngành logistics cũng phụ thuộc nhiều giá cả. Ông nói việc sử dụng ít xăng dầu dẫn đến giảm chi phí và giảm việc thải khí carbon vào môi trường là thắng lợi của chính công ty đó và thắng lợi về phía môi trường. Việc phát triển bền vững dưới áp lực của chi phí sẽ là một thách thức.

——————————-
(*) Chen He: nữ phóng viên trẻ của Tạp chí mạng Eco-Business.

(**) Khái niệm cơ bản của carbon offset là ước tính lượng khí thải carbon từ các hoạt động của DN như vận tải, gọi là tổng lượng khí thải (carbon footprint), và sau đó có thể cân bằng bằng cách tham gia vào các quỹ đầu tư tạo ra nguyên liệu “sạch” – ví dụ như phong điện – như một hoạt động để ‘đền bù’ cho lượng khí thải carbon vào môi trường.

(***) Khái niệm phát triển bền vững (sustainable development) được xem là một khuynh hướng của thế kỷ 21. Các chuỗi cung ứng cũng theo khuynh hướng đó với các mục tiêu thân thiện với môi trường như giảm lượng khí thải, tiết kiệm năng lượng.

Theo Vlr.vn 

 

 

Những đất nước có công nghệ sạch nhất thế giới

Sustainable World Capital (SWC) là một Tập đoàn tài chính xuyên quốc gia, với hoạt động chủ yếu là tập trung vào việc gây quỹ đầu tư cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp trong hướng nghiên cứu và phát triển công nghệ sạch (cleantech). Tổ chức này mới đây đã đưa ra đánh giá và liệt kê danh sách “những quốc gia phát triển công nghệ sạch hàng đầu trên thế giới”.

Shawn Lesser – Giám đốc chi nhánh của SWC tại Atlanta cho biết: “Xu hướng sử dụng công nghệ sạch đang dần hình thành và phát triển mạnh mẽ. Theo một số nhà phân tích doanh thu từ các “mặt hàng cleantech” ước tính sẽ đạt ngưỡng 2 tỷ USD vào năm 2030. Trên thực tế, không thể đưa ra một đánh giá hoàn hảo trong vấn đề này, tuy nhiên, những nhận định của chúng tôi không phải chỉ được liệt kê một cách đơn thuần mà dựa vào một số tiêu chí quan trọng để xem xét như: Các chính sách khuyến khích cũng như kế hoạch phát triển “công nghệ sạch” của Chính phủ; quyết định tiến hành các dự án đầu tư lớn; cách cải tiến kinh doanh và ngay cả các yếu tố ảnh hướng đến đời sống văn hóa và xã hội.”

Vậy mục tiêu chính của các quốc gia trong danh sách  dưới đây là gì? Đó là trước mắt có thể  giải quyết vấn đề công ăn việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế và không thể không kể đến mong muốn đạt được sự độc lập trong vấn đề năng lượng”.

1. Đan Mạch: Đang hướng tới mục tiêu trở thành một quốc gia không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đồng thời được biết đến là nước xuất khẩu công nghệ năng lượng lớn nhất tại Châu Âu và là nơi khai sinh  công nghệ sản xuất điện từ gió. Hiện số tua bin gió mà một số công ty lớn như Vestas, Siemens, Gamesa tại Đan Mạch xuất khẩu chiếm đến hơn 30% số tua bin gió trên toàn thế giới. Hướng phát triển năng lượng sạch tại Đan Mạch cũng nhận được sự hỗ trợ mạnh về mặt tài chính từ một số Tổ chức như ATP Pension Fund, DONG Energy, và AP Pension. Có thể nói Đan Mạch là một ví dụ điển hình trong việc sử dụng “công nghệ sạch”, một số tổ chức như Copenhagen Capacity (Cơ quan xúc tiến đầu tư Copenhagen), Copenhagen Cleantech Cluster và Cleantech Scandinavia, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh, hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư, cũng như việc tìm kiếm đối tác trong nghiên cứu và phát triển (R&D).

2. Đức: Là một trong những nước đi tiên phong trong việc phát triển năng lượng sạch, và hiện được coi là “trung tâm điện Mặt trời” thế giới bởi hơn 50% trong tổng số nguồn điện Mặt trời trên toàn cầu được tạo ra và sử dụng tại Đức. Để có được điều này, trước hết phải kể đến chính sách ưu tiên sử dụng năng lượng sạch của Chính phủ Đức. Trong năm 2008, nguồn năng lượng sạch đã đạt tỷ trọng 15% trong tổng sản lượng điện tiêu dùng tại nước này. Đức cũng là một trong số những quốc gia ở Châu Âu đầu tư khá mạnh tay trong lĩnh vực năng lượng sạch, với số vốn lên đến 383 triệu USD – tăng 217% so với năm 2007. “Chiến lược công nghệ cao” của Chính phủ Đức, với ước tính chi phí lên đến 15 tỷ Euro trong giai đoạn từ năm 2006 – 2009, đã góp phần giải quyết việc làm cho hơn 260.000 công nhân trong nghành công nghiệp năng lượng. Mục tiêu của Đức là sẽ sản xuất 50% sản lượng điện từ gió và năng lượng Mặt trời vào năm 2050.

3. Thụy Điển: Là một quốc gia có tầm nhìn bao quát về hướng phát triển năng lượng sạch, với 43,3% mức năng lượng tiêu thụ là năng lượng tái sinh. Thụy Điển có thể tự hào với bạn bè quốc tế về 2 dự án “thành phố phát triển bền vững”, đó là Tomorrow tại Malmo và Hammarby Waterfront tại Stockholm, trong đó Malmo có thể coi là một ví dụ điển hình về “thành phố xanh”, bởi 39,9% mức tiêu thụ năng lượng là năng lượng tái sinh.

Trong giai đoạn từ 1990 – 2007, GDP của Thụy Điển tăng 48%, trong khi đó lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính giảm 9%. Những chính sách ưu tiên của Chính phủ, cùng với hoạt động của một số tổ chức về môi trường quốc tế như Society of Nature Conservation, WWF, Greenpeace, là một trong những động lực chính thúc đẩy công nghệ sạch của Thụy Điển phát triển. Ngoài ra, sự hỗ trợ về mặt tài chính cho một số tổ chức như AP7 Pension Fund, Northzone Ventures, Sustainable Technologies Funds và SEB Venture Capital, có thể dễ dàng thấy rằng Thụy Điển là một quốc gia có tiềm năng phát triển mạnh mẽ công nghệ sạch.

4. Vương Quốc Anh: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ phát thải CO2 gắn với công nghiệp xây dựng kiến trúc là trên 40% tại các nước Châu Âu, do đó Chính phủ Anh  đang tìm ra biện pháp hạn chế tối đa sự phát thải khí CO2 trong quá trình thiết kế và xây dựng để loại bỏ những tác động xấu của chúng tới môi trường và con người, đồng thời cam kết giảm thiểu tới 60% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2050. Những chính sách này đều nhận được sự hỗ trợ từ một số tổ chức như ThinkLondon,  UKTrade&Investments, GenerationInvestment Management (một quỹ đầu tư có trụ sở tại London do Cựu phó Tổng thống Mỹ Al Gore là Giám đốc điều hành); Virgin Green Fund (được nhà tỉ phú người Anh, Richard Branson thành lập); Zouk Ventures, Carbon Trust, Impax và Environmetn Technology Fund.

Bên cạnh đó, Anh  đặt ra mục tiêu sử dụng 15% năng lượng tái sinh vào năm 2020, và trước mắt là “Thế vận hội xanh” khi quốc gia này được quyền đăng cai tổ chức Thế vận hội Olympics vào năm 2012.

5. Israel: Được coi là “Thung lũng Silicon” về công nghệ xử lý nước, và đang dần trở thành một quốc gia đứng đầu về những chính sách khuyến khích quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ sạch trên thế giới. Hiện 75% nguồn nước thải của Israel được xử lý và tái sử dụng; là quốc gia đầu tiên phát triển và ứng dụng công nghệ “tưới nhỏ giọt” trong nông nghiệp, đồng thời quốc gia lắp đặt “Hệ thống khử muối nước biển bằng phương pháp thẩm thấu ngược”, đáp ứng nhu cầu về sử dụng nước lớn nhất thế giới. Israel không hẳn là thị trường tiêu thụ các “mặt hàng” công nghệ sạch lớn nhất, nhưng quốc gia này là trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ sạch có tầm quan trọng hàng đầu trên thế giới, với một số Tập đoàn lớn như CellEra, Aqwise và Emefcy.

Israel là quốc gia đầu tiên trên thế giới thử nghiệm hệ thống “xe điện” trên quy mô toàn quốc. Một số doanh nghiệp cung cấp vốn đầu tư mạo hiểm (venture capital) tại Israel như Israel Cleantech, Aqua Argo Fund và Terra Ventures.

Theo BCNN