Phụ phẩm trong nông nghiệp là một tài nguyên

Nhiều người dân, doanh nghiệp vẫn xem nguồn phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp là rác thải nên bỏ đi, gây ô nhiễm môi trường, trong khi chúng có thể là một nguồn tài nguyên giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào.

Hội thảo “Hướng đến chuỗi giá trị lúa gạo bền vững ở ĐBSCL” (Nguồn: VNCPC)

Đó là một phần nội dung được đưa ra tại Hội thảo hướng đến hệ sinh thái công-nông nghiệp bền vững, tập trung vào chuỗi giá trị lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long, do Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO), Công ty Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC), Trường đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức ngày 3-3-2017 tại TPHCM.

Theo ông Miroslav Delporte – Cục Kinh tế hợp tác của Thụy Sĩ (SECO) – đơn vị tài trợ cho dự án Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì một nền sản xuất các-bon thấp – hiện tại, trong các lĩnh vực nông nghiệp, ngành chế biến lúa gạo của Việt Nam là một mắt xích rất cần những cải tiến để nâng cao hiệu quả sử dụng, đặc biệt là vấn đề giảm thải khí thải thông qua ứng dụng những công nghệ tiên tiến.

Ông Martin Fritsh, một chuyên gia của dự án, cho rằng sản xuất sạch hơn là kiểm soát quy trình tốt hơn và làm sao có thể thu hồi được phụ phẩm.

Theo SECO, trong bốn năm thực hiện dự án trên, các bên có liên quan đã chứng minh được những phụ phẩm trong nông nghiệp là một nguồn tài nguyên. Các chuyên gia phát hiện ra rằng, có rất nhiều nhà máy xay xát lúa gạo đã lãng phí rất nhiều điện năng. Điều này làm cho giá thành một tấn gạo thành phẩm cao hơn. Vấn đề này có thể khắc phục được nếu những người đứng đầu các doanh nghiệp muốn tận dụng phụ phẩm để giảm thiểu chi phí đầu vào.

Dự án đã thực hiện đánh giá hiệu quản tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP) cho 16 nhà máy chế biến gạo và 10 công ty chế biến cà phê, giúp tiết kiệm gần 1,1 triệu kWh điện/năm, tương đương 80.000 đô la Mỹ, cắt giảm  621 tấn CO2/năm. Qua đó, giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng lúa gạo, đặc biệt trong bối cảnh, xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam đang gặp khó về thị trường như hiện nay.

Theo trang tin của Thời báo Kinh tế Sài Gòn – thesaigontimes.vn

Gia tăng giá trị lúa gạo nhờ sản xuất sạch hơn

Hội thảo “Hướng đến chuỗi giá trị lúa gạo bền vững ở ĐBSCL” trong khuôn khổ Dự án “Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì một nền sản xuất các-bon thấp”.

Hội thảo “Hướng đến chuỗi giá trị lúa gạo bền vững ở ĐBSCL” (Nguồn: VNCPC)

Hội thảo “Hướng đến chuỗi giá trị lúa gạo bền vững ở ĐBSCL” trong khuôn khổ Dự án “Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì một nền sản xuất các-bon thấp”, do Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO) và Trung tâm Sản xuất sạch hơn (VNCPC) tổ chức mới đây, đã cho thấy những tiềm năng gia tăng giá trị lúa gạo khi áp dụng sản xuất sạch hơn.

Tiết kiệm hơn 1 triệu kWh điện/năm

Trong 4 năm qua, Dự án “Giảm thiểu chất thải công nghiệp vì một nền sản xuất các-bon thấp” do Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO) tài trợ đã thực hiện đánh giá sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP) cho 16 nhà máy chế biến gạo và 10 công ty chế biến cà phê.

Theo ông Phạm Văn Tỏ, Phó Trưởng phòng Phòng Kỹ thuật và Xây dựng cơ bản (TCty Lương thực Miền Nam), đã có tổng cộng 8 đơn vị thành viên của TCty tham gia thực hiện thí điểm tiết kiệm năng lượng.

Tiết kiệm năng lượng là mối bận tâm của TCty Lương thực Miền Nam từ nhiều năm qua vì điện năng chiếm tới 20-35% chi phí sản xuất. Đây là một chi phí rất lớn, và nếu chỉ cần tiết giảm được một vài phần trăm lượng điện tiêu thụ, TCty cũng đã có thể tiết kiệm được một khoản chi phí không nhỏ.

TCty Lương thực Miền Nam đã từng triển khai nhiều giải pháp về công nghệ, thiết bị theo hướng tiết kiệm điện và chuyển đổi việc sử dụng nguồn nhiên liệu từ dầu hoặc than sang sử dụng trấu rời sẵn có trong quá trình xay xát lúa. Năm 2013, TCty bắt đầu tiếp cận Dự án về sử dụng hiệu quà tài nguyên và sản xuất sạch hơn.

Kết quả đạt được rất khả quan, các đơn vị đã tiết kiệm được tổng cộng 983.764 kWh điện (912.254 kWh điện trong sản xuất và 71/510 kWh điện trong sinh hoạt), tổng giá trị tiết kiệm là hơn 1,4 tỷ đồng.

Bên cạnh đó là hiệu quả không nhỏ về mặt môi trường vì áp dụng sản xuất sạch hơn góp phần làm giảm thiểu hiệu ứng nhà kính thích ứng với BĐKH. Với kết quả đó, TCty Lương thực Miền Nam sẽ tổ chức phổ biến, triển khai đại trà ra tất cả các đơn vị còn lại.

Thống kê của dự án cho thấy trong 4 năm qua, 16 nhà máy chế biến gạo và 10 Cty chế biến cà phê, khi thử nghiệm các giải pháp sản xuất sạch hơn, đã tiết kiệm được 1,08 triệu kWh điện/năm, tương đương với 80.000 USD, cắt giảm 621 tấn CO2/năm.

Tận dụng phế phẩm

Những nghiên cứu, đánh giá của các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện dự án, cho thấy, trong ngành sản xuất lúa gạo ở nước ta nói riêng, trồng trọt nói chung, còn rất nhiều khâu có thể gia tăng giá trị nếu áp dụng các biện pháp sạch hơn thông qua những giải pháp công nghệ, kỹ thuật tiên tiến.

Trong khâu chế biến lúa gạo, nếu tận dụng được nguồn tro trấu, sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế và giảm thiểu tác động các bon đến môi trường. Khảo sát mới đây của Nhóm năng lượng thuộc Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) tại 7 nhà máy xay xát gạo ở ĐBSCL, cho thấy, vỏ trấu do các nhà máy này có được trong quá trình xay xát đang được sử dụng làm chất đốt dưới các dạng viên nén, củi trấu và trấu rời, tuy nhiên hiệu quả kinh tế chưa cao.

Trong khi đó, nguồn tro trấu sau khi đốt hết vỏ trấu lại chưa được sử dụng. Nếu quá trình đốt trấu có kiểm soát để tạo ra tro silica vô định hình (ASA) sẽ có thể sử dụng làm phụ gia bê tông, thay thế xi măng… Khi ấy, thay vì phải tốn khoảng 20 USD/tấn để đổ đi, nguồn tro silica vô định hình có thể được bán với giá 200-600 USD/tấn.

Còn theo ông Lê Viết Vinh (Cty Viết Hiền, Đăk Lăk), sử dụng các phế phẩm nông nghiệp như vỏ trấu, vỏ cà phê… làm nguyên liệu trong công nghệ đốt nhiệt phân đem lại rất nhiều lợi ích về kinh tế và môi trường.

Với sự hợp tác và hỗ trợ của một số tổ chức, cơ quan trong và ngoài nước như UNIDO, Sofies, VNCPC…, ông Vinh đã xây dựng được lò đốt nhiệt phân tại cơ sở của mình. Sử dụng vỏ trấu làm nguyên liệu, dưới tác động cháy của công nghệ Flox (công nghệ cháy không có ngọn lửa), nhiệt độ đạt được rất cao trong buồng đốt, đảm bảo một sự cháy hoàn toàn nên hạn chế tối đa mức xả thải các khí độc hại như CO và Nox.

Bên cạnh đó, khí nóng thu được sử dụng cho sấy cà phê rất hiệu quả, đạt chất lượng tốt. Vỏ trấu sau khi cháy hết trở thành than sinh học, khi sử dụng trong trồng trọt sẽ giúp cải thiện độ tơi xốp của đất và có khả năng giữ nước cao, đồng thời rất thân thiện với môi trường. Trong mùa mưa vừa qua, hệ thống đốt nhiệt phân của Cty Viết Hiền đã hoạt động thử nghiệm rất có hiệu quả ở HTX Bình Minh (Đăk Lăk).

Theo Sơn Trang – Báo Điện tử Nông nghiệp Việt Nam – nongnghiep.vn

Dự án SUPA trao quà hỗ trợ người nghèo

Trong khuôn khổ dự án “Xây dựng chuỗi cung ứng cá tra bền vững tại Việt Nam” do Liên minh Châu Âu tài trợ thông qua Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế tại Việt Nam (WWF VN) và Áo (WWF AT), một Trang trại mẫu đã được xây dựng tại khu vực phường Tân Phú, quận Cái Răng, tp Cần Thơ.

Trang trại nằm trong khu đất nghiên cứu, thực nghiệm của Trường Đại học Cần Thơ và nhằm mục đích nghiên cứu, thực tập, nâng cao kinh nghiệm thực tế cho sinh viên, cũng như thử nghiệm các công nghệ mới trước khi chuyển giao tới các doanh nghiệp và hộ dân nuôi cá tra.

Sau 2 năm xây dựng và 6 tháng vận hành nuôi cá thử nghiệm, với sự đồng ý của Cơ quan tài trợ EC, dự án đã tiến hành thu hoạch toàn bộ số cá và hỗ trợ cho các hộ nghèo khu vực xung quanh dự án vào ngày 27/12/2016 tại phường Tân Phú.

 Picture1  

Toàn cảnh Lễ trao quà tặng hỗ trợ người nghèo

Tham dự Lễ trao quà, về phía địa phương có ông Nguyễn Văn Tám (chủ tịch phường), ông Phạm Hùng Thống (Bí thư Đảng ủy phường) và các đại diện Mặt trận tổ quốc, Đoàn thể phường; Phía Đại học Cần Thơ có PGS.TS Trần Ngọc Hải (phó Trưởng Khoa Thủy sản), TS Nguyễn Thanh Long (phó Trưởng Khoa Thủy sản), PGS.TS Phạm Thanh Liêm (Phó trưởng Bộ môn Nuôi nuôi nước ngọt), TS Nguyễn Văn Triều (Giám đốc Trung tâm Thủy sản công nghệ cao). Đại diện dự án SUPA là ông Lê Xuân Thịnh (Phó Giám đốc VNCPC, Quản lý dự án SUPA) và 106 hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn phường tham dự sự kiện.

Trước khi trao quà tặng, ông Nguyễn Văn Tám (chủ tịch phường) đã thay mặt UBND phường và các hộ nghèo phát biểu cảm ơn Cơ quan tài trợ EC, Dự án SUPA và Trường ĐH Cần Thơ đã có một hành động rất thiết thực và nhân văn hỗ trợ người nghèo trên địa bàn phường có một cái Tết rất ấm cúng và có ý nghĩa.

Picture3

Chủ tịch Phường Tân phú phát biểu

Picture4

Các hộ dân nhận quà tài trợ

Kết thúc buổi Lễ trao quà tài trợ, UBND phường Tân phú đã trao giấy cảm tạ cho Dự án và Trường Đại học Cần Thơ với lời chúc cho dự án SUPA thành công và có nhiều hoạt động ý nghĩa hơn nữa hỗ trợ cho người dân khu vực Cần Thơ nói riêng và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung.

Picture5

UBND phường Tân Phú trao giấy cảm tạ cho Dự án và Trường ĐH Cần Thơ

Picture6

Chụp ảnh lưu niệm của dự án với địa phương

 

Theo VNCPC 

VNCPC – Nhân tố tích cực trong đẩy mạnh thực hiện sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn ở Việt Nam

Để góp phần phát triển bền vững nền công nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam, năm 1998, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) đã ký hợp tác với Bộ Giáo dục – Đào tạo thực hiện các dự án “Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam” – VNCPC và “Đẩy mạnh các dịch vụ mới về sản xuất sạch hơn ở Việt Nam thông qua VNCPC” với sự hỗ trợ tài chính của Cục kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO).

Sứ mệnh của VNCPC là phổ biến rộng rãi và thúc đẩy áp dụng khái niệm “Sản xuất sạch hơn” (CP) vào thực tiễn hoạt động công nghiệp tại Việt Nam. Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là đơn vị chủ các dự án này và Viện khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) là đơn vị trực tiếp thực hiện.

Trong suốt gần 20 năm xây dựng và phát triển, VNCPC đã đào tạo và xây dựng một mạng lưới chuyên gia CP, xây dựng năng lực và hỗ trợ kỹ thuật cho trên 1000 nhà máy. Đồng thời, VNCPC luôn phối hợp chặt chẽ với đơn vị chức năng của Bộ Tài nguyên & Môi trường và Bộ Công Thương trong các hoạt động nâng cao nhận thức về CP trong lĩnh vực công nghiệp tại Việt Nam, duy trì diễn đàn Hội nghị bàn tròn Quốc gia về “Sản xuất và tiêu thụ bền vững” (SCP) và hỗ trợ các doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu trong khuôn khổ dự án mà họ tham gia, đặc biệt các mục tiêu của Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020.

Gần đây nhất, năm 2015 UNIDO và Bộ Kế hoạch & Đầu tư chọn VNCPC là đơn vị tư vấn về lĩnh vực “Hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn” (RECP) cho dự án “Triển khai các sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới mô hình khu công nghiệp bền vững tại Việt Nam” do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) và SECO tài tài trợ (2015 -2017). Nhiệm vụ của VNCPC trong dự án này là xây dựng năng lực và hướng dẫn đánh giá RECP cho doanh nghiệp trong các khu công nghiệp Khánh Phú tại Ninh Bình, Hòa khánh tại Đà Nẵng và Trà Nóc 1 & 2 ở Cần Thơ.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này, VNCPC đã khảo sát điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, sau đó áp dụng các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn trình diễn về CP trước đây & RECP hiện nay cũng như tích hợp CP với các vấn để liên quan như Sử dụng hiệu quả năng lượng, Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, Sản xuất và Tiêu dùng bền vững, Thiết kế sản phẩm bền vững… ở Việt Nam cũng như những kiến thức và kinh nghiệm của mạng lưới toàn cầu của UNIDO – UNEP về RECP. Hoạt động RECP của dự án tại 23 doanh nghiệp trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2016 đã đạt được những kết quả bước đầu khá ấn tượng về cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng, nước và nguyên vật liệu, góp phần mang lại lợi ích kinh tế cụ thể và giảm tác động môi trường từ hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp.

IMG_3501

 Chuyên gia VNCPC đi đánh giá RECP tại doanh nghiệp

Bảng tóm tắt kết quả thực hiện RECP tại các DN lựa chọn trong 3 KCN mục tiêu của dự án

 TT           KCNKết quảHoạt động

Khánh Phú,

Ninh Bình

Hòa Khánh,Đà Nẵng Trà Nóc I & II,Cần Thơ 

1

Số DN tham gia

7 6

10

2

Số CB được đào tạo

33 35

39

3

Số giải pháp RECP lựa chọn

125 92

185

4

Số dự án đầu tư công nghệ

5 10

8

5

Số dự án đầu tư đang thực hiện

2 8

4

6

Lợi ích kinh tế(áp dụng tỷ gía 1USD = 22,300 VND) Tiết kiệm 76.816 USD/năm do giảm suất tiêu thụ than, khí đốt, điện và nước, trong đó 72,45% là do giảm tiêu thụ điện năng Tiết kiệm 279.597 USD/năm do giảm suất tiêu thụ than, củi, điện & nguyên vật liệu, trong đó 63% là do giảm tiêu thụ điện năng Tiết kiệm 376.326 USD/năm do giảm suất tiêu thụ điện và nước, trong đó 84% là do giảm tiêu thụ điện năng

7

Lợi ích môi trường Giảm phát thải CO2: 726 tấn/năm Giảm phát thải CO2: 1.625 tấn/năm Giảm phát thải CO2: 2.458 tấn/năm

Theo đánh giá của VNCPC, hiện nay, tổn thất năng lượng tại các doanh nghiệp là khá lớn. Để sớm khắc phục vấn đề này, các doanh nghiệp cần dành ưu tiên cao cho việc thực hiện các giải pháp quản lý và đầu tư đổi mới công nghệ – thiết bị. Các giải pháp này sẽ góp phần cắt giảm chi phí sản xuất đồng thời giảm tác động tới môi trường và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.

Mặt khác, một tín hiệu tốt là một số doanh nghiệp đã thể hiện tính cam kết cao, bao gồm cả việc chủ động đầu tư thực hiện các dự án đổi mới công nghệ theo hướng sản xuất sạch hơn. Đây là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của dự án.

Việc thực hiện đánh giá RECP tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, không chỉ giúp các doanh nghiệp nhận ra những cơ hội nâng cao hiệu quả sản xuất và công tác bảo vệ môi trường mà còn cung cấp thông tin cơ sở về chất thải, tiềm năng trao đổi, tuần hoàn, tái chế và tái sử dụng chất thải, định hướng cho việc xây dựng các mô hình KCN sinh thái phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và kỹ thuật của từng địa phương.

Khu công nghiệp được xem là một địa bàn có nhiều lợi thế cho cho việc nhân rộng áp dụng tiếp cận RECP vào công nghiệp làm gia tăng tác dụng của tiếp cận này, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và KCN nói chung, góp phần chuyển đổi các KCN truyền thống theo hướng KCN sinh thái, đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế cũng như môi trường và xã hội của các KCN ở nước ta.

Nhân dịp 50 năm thành lập UNIDO, VNCPC xin chân thành cảm ơn UNIDO về sự hợp tác hiệu quả với viện INEST, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong suốt quá trình thực hiện các dự án trên và ươm tạo nên VNCPC Co. Ltd. hôm nay.

PGS.TS Trần Văn Nhân – Giám đốc VNCPC Co.Ltd

image2

 

Theo Admin vncpc.org

UNIDO kỷ niệm 50 năm thành lập

Bạn có biết tại Việt Nam, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thuần đã tăng từ 1 tỷ USD năm 2003 lên 10 tỷ USD năm 2008, và đạt tới 23 tỷ USD năm 2015?  Tổng giá trị xuất khẩu cũng tăng từ 2 tỷ USD năm 1990 lên 72 tỷ USD năm 2010, và đến năm 2015 đạt 162 tỷ USD? Những con số rất ấn tượng này cho thấy thành công to lớn của Việt Nam trong hoạt động kinh tế, tạo đà thúc đẩy nền kinh tế và việc làm tăng trưởng mạnh mẽ.

Có được những thành tựu này phần lớn là nhờ những cải cách Việt Nam đã tiến hành kể từ khi triển khai công cuộc Đổi Mới vào năm 1986, giải phóng nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài,  thúc đẩy xuất khẩu và giảm nghèo. Để chuẩn bị cho công cuộc cải cách, Việt Nam đã nhận được rất nhiều hỗ trợ kỹ thuật từ cộng đồng quốc tế, trong đó có Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO), từ rất lâu trước năm 1986, hay chính xác hơn, ngay từ 1978.

Trong hơn 35 năm qua, UNIDO đã và đang chia sẻ với Việt Nam các thông lệ thực hành quốc tế tốt nhất nhằm giúp Việt Nam phát triển một nền công nghiệp toàn diện và bền vững. Hơn 100 triệu USD đã được UNIDO giải ngân qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật thuộc nhiều lĩnh vực như hỗ trợ khu vực tư nhân và các cơ sở nghiên cứu kỹ thuật và công nghiệp, tạo thuận lợi cho chuyển giao công nghệ, xây dựng năng lực thương mại, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng hiệu quả, xúc tiến đầu tư, và tăng cường thực hành kinh doanh có trách nhiệm.

Chương trình hoạt động của UNIDO nhằm mục đích giúp Chính phủ phát triển kinh tế – xã hội bền vững và công bằng. Quan hệ đối tác đa chiều đã được thiết lập với các bộ chủ quản các ngành công nghiệp, thương mại, kế hoạch, đầu tư, nông nghiệp, khoa học và công nghệ, môi trường, với Phòng Thương mại và Công nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, các trường đại học, cũng như các trung tâm do UNIDO thành lập.

Hỗ trợ của UNIDO tập trung vào việc xây dựng và thưc hiện các chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp và thương mại, ví dụ khảo sát ngành công nghiệp, các chính sách tiểu ngành, các chính sách và pháp luật về đầu tư trong và ngoài nước. Một mục đích khác là thúc đẩy sự tăng trưởng của các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp trong nước phục vụ cho phát triển công nghiệp và tăng cường năng lực cho tất cả các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp.

Cơ chế chuyển giao công nghệ có khác biệt đáng kể giữa các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và các nền kinh tế thị trường. Tại Việt Nam, hoạt động của UNIDO có ý nghĩa như tác nhân thúc đẩy, tạo thuận lợi và khởi xướng quá trình chuyển giao công nghệ. Hơn thế, UNIDO còn giúp kết nối các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài thông qua các cuộc triển lãm kỹ thuật, hội thảo, các hoạt động xúc tiến đầu tư và các mạng thông tin.

Về vấn đề môi trường, một trong các lĩnh vực ưu tiên của UNIDO là sản xuất sạch hơn và tiết kiệm năng lượng. UNIDO đã hỗ trợ tư vấn chính sách, cung cấp thông tin về sự sẵn có và khả năng lựa chọn công nghệ sạch, các chương trình xúc tiến công nghệ sạch, cũng như kiểm toán môi trường và năng lượng.

Đầu tư cho vốn con người là nội dung nổi bật trong hầu như tất cả các câu chuyện thành công ở vùng Đông Á. Chi tiêu cho giáo dục là nền tảng nhưng sự tham gia của khu vực tư nhân cũng rất quan trọng. Có thể chia các dịch vụ do UNIDO hỗ trợ thành ba nhóm sau: (i) hỗ trợ xây dựng chiến lược, chính sách, và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực công nghiệp; (ii) củng cố năng lực thể chế cho phát triển nguồn nhân lực công nghiệp ; và (iii) tập huấn trực tiếp định hướng các nhóm doanh nghiệp hay các tiểu ngành.

Các dự án của UNIDO đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp tại Việt Nam, và tôi muốn đề cập đến một vài dự án trong số đó:

  • Trung tâm Sản xuất Sạch Việt Nam do UNIDO hỗ trợ thành lập, bắt đầu hoạt động vào cuối năm 1998, là một trong số những động lực chính thúc đẩy Việt Nam theo đuổi con đường sản xuất công nghiệp bền vững.
  • UNIDO hỗ trợ Việt Nam đánh giá trước phê chuẩn Công ước Minamata để kiểm soát thủy ngân trong sản phẩm và tránh hiểm họa sức khỏe không cần thiết cho con người và môi trường.
  • Để giúp đất nước giải quyết thách thức giảm cường độ năng lượng, UNIDO đã xây dựng kế hoạch toàn diện đầu tiên cho việc xây dựng các biện pháp tăng cường sử dụng tiết kiệm và bảo toàn năng lượng trong sản xuất công nghiệp.
  • Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, và kể từ đó UNIDO đã giúp Việt Nam đáp ứng với tiêu chuẩn quốc tế và tiếp cận được thị trường. Chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm là một trong số những thách thức lớn nhất đối với sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế quốc tế.
  • Hơn 15 năm qua, UNIDO hân hạnh hợp tác với Chính phủ trong lĩnh vực cải cách đăng ký kinh doanh. UNIDO hỗ trợ giải quyết những trở ngại mà các nhà kinh doanh gặp phải trong quá trình hoàn tất thủ tục đăng ký khởi nghiệp. Đặc biệt, UNIDO  hỗ trợ thực hiện Luật Doanh nghiệp 2005 và 2014 và đơn giản hóa quy trình đăng ký. Năm 2010, Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh được thành lập, và cùng năm đó, Hệ thống Đăng ký Kinh doanh Quốc gia được khai trương. Thời hạn đăng ký kinh doanh theo luật định đã giảm từ 15 ngày xuống chỉ còn 3 ngày.

Chương trình nghị sự 2030 cho Phát triển Bền vững được nhất trí gần đây đặt ra cho chúng ta những mục tiêu tham vọng trên quy mô toàn cầu nhằm giải quyết cả ba phương diện của phát triển bền vững là kinh tế, môi trường và xã hội. Các mục tiêu và mục đích đề ra trong Chương trình nghị sự này được bổ sung bằng Thỏa thuận Paris với sự thông qua của 195 quốc gia vào tháng 12 năm ngoái. Với thỏa thuận này – là thỏa thuận khí hậu đầu tiên mang tính phổ cập và ràng buộc về pháp lý – chúng ta cùng cam kết giới hạn nhiệt độ tăng thêm ở mức dưới 2oC trên mức của thời kỳ tiền công nghiệp.

Mục tiêu Phát triển Bền vững số 9 của Chương trình nghị sự 2030 thừa nhận công nghiệp hóa toàn diện và bền vững có liên quan trực tiếp đến xóa đói, và ủy thác cho UNIDO nhiệm vụ hỗ trợ phát triển công nghiệp toàn diện và bền vững. Với Việt Nam, UNIDO nhận thấy có hai vấn đề lớn cần giải quyết để đạt được Mục tiêu Phát triển Bền vững số 9. Vấn đề thứ nhất là, làm thế nào để tiến trình tự do hóa thương mại,  tái cơ cấu kinh tế và sản xuất gần đây có thể đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp của Việt Nam? Thứ hai là, làm sao có thể xây dựng lại chính sách, chiến lược công nghiệp để có thể đưa vào các ưu tiên của quốc gia cũng như tính đến các nguy cơ và cơ hội toàn cầu, trong đó có việc thiết lập mối liên kết giữa các ngành công nghiệp để tăng giá trị sản xuất gia tăng cho các sản phẩm hiện có và gia nhập những ngành nghề mới, năng động hơn.

Bối cảnh toàn cầu hiện nay khác biệt rất nhiều so với bối cảnh thập kỷ 1990. Giờ đây Việt Nam đã là một phần của một cuộc chơi lớn, đã vượt qua điểm có thể quay trở lại với việc tham gia ký kết một số thỏa thuận thương mại chủ chốt trong năm 2015. Hiệp định thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình dương TPP có nhiều tiềm năng to lớn. Việt Nam có thể là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ thỏa thuận thương mại giữa 13 nước này, vì nhờ đó, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam có khả năng tăng vượt bậc đến 8% trong hai thập kỷ tới. Việt ký kết một hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu sẽ giúp xóa bỏ 99% mức thuế áp vào hàng hóa sau khoảng 10 năm.

Việt Nam cũng rất có khả năng trở thành một đối tác chủ chốt trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Sự ra đời của AEC, cùng với sự trỗi dậy của Việt Nam như là một trung tâm sản xuất công nghiệp và công nghệ, được kỳ vọng là sẽ giúp gia tăng thương mại và đầu tư nội khối ASEAN.

Trước bối cảnh mới này, UNIDO sẽ tiếp tục cùng Việt Nam xúc tiến tái cơ cấu và hiện đại hóa để nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh. Chúng tôi sẽ tập trung vào các ngành chủ đạo cũng như những ngành có lợi thế so sánh và có tầm quan trọng chiến lược để phát triển công nghiệp nhanh, hiệu quả, bền vững, nâng cao tính độc lập cũng như khả năng tự phục hồi của nền kinh tế.

UNIDO sẵn sàng hỗ trợ cho chiến lược phát triển công nghiệp toàn diện và bền vững của Việt Nam, và tin tưởng rằng đến năm 2035, nền kinh tế của Việt Nam sẽ là một nền kinh tế toàn diện, tập trung vào phụ nữ và thanh niên, với những ngành chuyên môn hóa đạt chuẩn quốc tế về công nghệ và chất lượng sản phẩm, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, sử dụng năng lượng hiệu quả, và cạnh tranh công bằng trên thị trường hội nhập toàn cầu.

LI Yong

Tổng Giám đốc UNIDO

Theo UNIDO Vietnam

Hội thảo “Tiềm năng áp dụng cộng sinh công nghiệp tại khu công nghiệp Hoà Khánh – Đà Nẵng”

Ngày 27/9/2016 tại khách sạn Novotel – thành phố Đà Nẵng, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) – nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG) đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hội thảo “Tiềm năng áp dụng cộng sinh công nghiệp tại Khu công nghiệp Hoà Khánh – Đà Nẵng”. 

image3

Ông Vũ Quốc Huy – Phó vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Hoạt động này nằm trong khuôn khổ Chương trình Hiệu quả Tài nguyên tại Việt Nam của IFC. Hội thảo được khai mạc với bài phát biểu của ông Vũ Quốc Huy – Phó vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế – Bộ Kế hoạch và Đầu tư và bà Vũ Tường Anh – Giám đốc Chương trình Hiệu quả Tài nguyên Việt Nam.

image2

 Bà Vũ Tường Anh – Giám đốc Chương trình Hiệu quả Tài nguyên Việt Nam (IFC)

Các chuyên gia đến từ Hàn Quốc đã có bài trình bày báo cáo kết quả đánh giá xác định tiềm năng cộng sinh công nghiệp tại khu công nghiệp Hoà Khánh cũng như kinh nghiệm triển khai các giải pháp cộng sinh công nghiệp trong khu công nghiệp tại Hàn Quốc.

image4

 Giáo sư Hung-Suck Park – Đại học Ulsan – Hàn Quốc đang trình bày báo cáo kết quả đánh giá

Qua kết quả khảo sát của các chuyên gia Hàn Quốc, Hoà Khánh được đánh giá là khu công nghiệp có tiềm năng để phát triển mạng lưới cộng sinh công nghiệp. Nếu mô hình cộng sinh công nghiệp được xây dựng thành công tại Hoà Khánh, mô hình này sẽ được nhân rộng tại các khu công nghiệp trên cả nước.

Bên cạnh đó, chuyên gia cao cấp của IFC – ông Etienne Raffi Kechian cũng có bài trình bày về kinh nghiệm thực hiện cộng sinh công nghiệp trong khu công nghiệp ở một số dự án của IFC.

Cuối buổi hội thảo là phiên thảo luận mở giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chuyên gia  về việc triển khai thực hiện các giải pháp cộng sinh công nghiệp được đề xuất tại khu công nghiệp Hoà Khánh.

image1

 

Theo Admin VNCPC

TRANG TRẠI MẪU NUÔI CÁ TRA ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG

TRANG TRẠI MẪU NUÔI CÁ TRA ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG

Trong khuôn khổ dự án “Xây dựng chuỗi cung ứng cá tra bền vững tại Việt Nam” – SUPA do Liên minh Châu Âu tài trợ thông qua các đối tác là Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế WWF Áo và WWF Việt nam hỗ trợ xây dựng Trung tâm đào tạo và Trang trại mẫu nhằm nghiên cứu chuyển giao công nghệ mới, tập huấn chia sẻ thông tin cho các hộ nuôi, cán bộ kỹ thuật, chuyên gia trong lĩnh vực ương, nuôi cá tra.

Sau hơn một năm xây dựng trên khu đất 2 ha của Trường Đại học Cần Thơ tại khu vực phường Phú Thứ, quận Cái Răng, tp Cần Thơ, Trang trại mẫu đã hoàn thành cơ bản vào tháng 3 và bắt đầu chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15 tháng 5 năm 2016. Các hạng mục xây dựng gồm: ao lắng, hệ thống ao thí nghiệm, ao ương, ao nuôi, ao xử lý nước thải, phòng thí nghiệm, trại thực nghiệm nằm sát ngay sông Hậu.

Trang trai nuoi ca Tra 1

Sơ đồ Trang trại mẫu

Các hoạt động của Trang trại mẫu gồm:

–       Nghiên cứu, thử nghiệm các công nghệ ương, nuôi cá tra mới nhằm cắt giảm chi phí giá thành, giảm tác động đến môi trường.

–       Tập huấn cho các hộ dân, cán bộ kỹ thuật của các Công ty.

–       Chuyển giao công nghệ.

Hiện nay, các cán bộ kỹ thuật của Dự án đang tiến hành nuôi thử nghiệm trên 3 ao và 1 ao đối chứng với diện tích mỗi ao khoảng 200 m2 trong thời gian khoảng 6 tháng. Hàng tuần các thông số môi trường nước như pH, TSS, động thực vật phù du, H2S, NO2, độ tăng trưởng đều được phân tích và đo đạc để có những đánh giá chính xác về mức độ hiệu quả của việc áp dụng các công nghệ mới.

Trang trai nuoi ca Tra 2

Bắt đầu xây dựng Trang trại

Trang trai nuoi ca Tra 3

Trại thực nghiệm và phòng thí nghiệm nhìn từ ao giống bố mẹ

 

Trang trai nuoi ca Tra 4

Hệ thống ao thí nghiệm

 

Trang trai nuoi ca Tra 5

Các thông số theo dõi ao

Bắt đầu từ tháng 7 năm 2016, VNCPC phối hợp cùng WWF Việt Nam tổ chức khoảng 20 chuyến tham quan, tập huấn cho các hộ nuôi và cán bộ kỹ thuật của nhà máy ngay tại Trang trại mẫu. Đây là lần đầu tiên các hộ dân và cán bộ kỹ thuật được chia sẻ thông tin và học hỏi kỹ thuật nuôi thực tiễn với các chủ đề khác nhau như thức ăn, môi trường, nuôi phù hợp với các chứng nhận, dịch bệnh,…từ các chuyên gia và cán bộ kỹ thuật của dự án và Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ.

Trang trai nuoi ca Tra 6

Các cán bộ kỹ thuật của dự án đang trao đổi chia sẻ thông tin cho người tham quan

Trang trai nuoi ca Tra 7

Thăm quan thực tế tại các hệ thống ao nuôi thí nghiệm

Dự án “Triển khai sáng kiến KCN sinh thái hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam” (EIP) đã triển khai 2 đợt đánh giá thuộc hợp phần đào tạo nhân lực và đánh giá Hiệu quả tài nguyên và Sản xuất sạch hơn (RECP) tại các doanh nghiệp

Mở đầu cho hợp phần này là khoá huấn luyện tập trung thực hiện RECP kéo dài 3 ngày tại mỗi địa phương vào tháng 1 năm 2016. 

Tiếp theo là đợt đánh giá lần 1 diễn ra từ ngày 29/2 – 5/3/2016 tại 7 công ty ở Ninh Bình, từ ngày 14/3 – 19/3/2016 tại 6 công ty ở Đà Nẵng và từ 7/3 đến 17/3/2016 tại 10 công ty ở Cần Thơ. Tại đợt đánh giá này, các chuyên gia của VNCPC đã khảo sát chung toàn bộ quy trình sản xuất của công ty, đánh giá hiện trạng sử dụng nguyên vật liệu, quản lý hoá chất và chất thải, khảo sát các hệ thống tiêu thụ năng lượng và nước, tiến hành kiểm tra và đo đạc bằng các thiết bị chuyên dụng để xác định tổn hao về đầu vào sản xuất. Từ đó nhóm chuyên gia đã trao đổi và hỗ trợ kỹ thuật giúp doanh nghiệp nhìn nhận những giải pháp RECP hiển nhiên để có thể triển khai ngay việc hiện thực hóa tiềm năng tiết kiệm chi phí sản xuất. Điều này giúp doanh nghiệp có thêm động lực để thực hiện đầy đủ đánh giá RECP với tác động cải thiện lâu dài hơn trong suốt thời gian tới.

Work meeting with company

Đoàn chuyên gia đang làm việc với Công ty

Đợt đánh giá lần 2 diễn ra từ ngày 11/4 – 16/42016 tại Ninh Bình, từ 19/4 – 23/4/2016 tại Đà Nẵng và Cần Thơ. Tại đợt đánh giá này, các chuyên gia và Công ty tiếp tục thảo luận về các giải pháp RECP đơn giản đã được thực hiện, phân tích hiệu quả của các giải pháp và rút ra bài học kinh nghiệm, thu thập số liệu bổ sung cho công việc tính toán cân bằng vật liệu và định giá dòng thải, phân tích sơ bộ tính khả thi của các giải pháp cần đầu tư cao.

Cooling tower assessment

Chuyên gia VNCPC đang khảo sát tháp giải nhiệt tại một nhà máy ở Cần Thơ

Đợt đánh giá lần 3 dự kiến diễn ra từ ngày 25 – 27/5/2016 tại Ninh Bình, 31/5 đến 3/6/2016 tại Đà Nẵng và 30/5-3/6/2016 tại Cần Thơ.

Tiền khảo sát khả năng tiếp cận “Quỹ Uỷ thác Tín dụng xanh “ (GCTF) của Dự án “Xây dựng nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt sản xuất điện sinh khối và than sinh học tại thành phố Hà Giang”

Ngày 20/5/2016, đoàn chuyên gia của VNCPC – đơn vị thẩm định kỹ thuật của Quỹ Uỷ thác tín dụng xanh đã có chuyến đi tiền khảo sát về kỹ thuật đối với dự án “Xây dựng nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt sản xuất điện sinh khối và than sinh học tại thành phố Hà Giang”.

Hiện tại, Thành phố Hà Giang và các huyện lỵ lân cận biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt phổ biến hiện nay là chôn lấp. Phương pháp này có giá thành rẻ nhưng đòi hỏi diện tích đất lớn, trong lúc quỹ đất hiện nay rất hạn chế. Mặt khác, phương pháp này không có khả năng thu hồi, tái chế nguồn nguyên liệu từ rác thải, đồng thời nảy sinh yêu cầu xử lý nước rỉ rác. Đây là công việc khó khăn, phức tạp không kém việc xử lý rác. Và với định hướng phát triển du lịch thì dự báo cho biết tổng lượng rác thải tại các khu vực này sẽ không ngừng tăng lên trong thời gian tới.

IMG_0146

Bãi chôn lấp rác thải thành phố Hà Giang

Trước tình hình đó, Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư xây dựng 68 – Hà Giang đã đề xuất xây dựng nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt sử dụng hệ thống công nghệ nhiệt khí hóa tồn tính thu hồi năng lượng để sản xuất điện sinh khối và than đen nhiệt lượng cao không khói, công suất 50 tấn/ngày đêm. Nếu được đưa vào hoạt động, dự kiến dự án sẽ xử lý triệt để khối lượng rác thải phát sinh cho địa bàn Thành Phố Hà Giang với tổng khối lượng rác thải sinh hoạt được xác định là 18.000 Tấn /năm. Về mặt hiệu quả xã hội, dự án xử lý rác thải trên địa bàn không chỉ góp phần tích cực trong công tác thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt đô thị mà còn nâng cao nhận thức cho người dân, từng bước đưa công tác vệ sinh môi trường trở thành trách nhiệm của cả cộng đồng, giải quyết công ăn việc làm cho trên 100 người lao động, tăng thu nhập, ổn định đời sống, góp phần đảm bảo an ninh kinh tế cho khu vực địa phương nói riêng và toàn tỉnh nói chung. Về mặt hiệu quả kinh tế, dự án sẽ thu hồi tài nguyên, năng lượng tái tạo, sản phẩm thu được là Gas DME và than sinh học, từ đó sử dụng sản phẩm Gas thu được để phát điện với công suất 800 KVA/H và 8% là than đen bán ra thị trường.

IMG_0143

 Đoàn chuyên gia VNCPC làm việc với ông Lục Chu Sơn – Giám đốc Công ty Cổ phần  tư vấn đầu tư xây dựng 68 – Hà Giang

Tại buổi làm việc, đoàn chuyên gia VNCPC đã có những trao đổi thông tin và kỹ thuật với ông Lục Chu Sơn – Giám đốc Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư xây dựng 68 – Hà Giang. Sau buổi thảo luận này, các chuyên gia sẽ tính toán kỹ thuật để xem xét khả năng dự án đạt được các tiêu chí đề ra của Quỹ GCTF và sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận với nguồn tín dụng xanh.

Theo VNCPC admin

Giải pháp thúc đẩy sản xuất xanh

Bà Nguyễn Lê Hằng – Điều phối viên Quỹ Uỷ thác Tín dụng xanh (GCTF) – Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam trả lời phỏng vấn trong chương trình “Câu chuyện hội nhập” – Kênh truyền hình Nhân dân về chủ đề những giải pháp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua được những khó khăn và rào cản để ứng dụng mô hình sản xuất xanh vào doanh nghiệp của mình.

Screen Shot 2016-04-13 at 10.12.01 AM

 

Link video phỏng vấn